Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 7 phút · 1.474 từ
Phòng bảo vệ toà Hoà Viễn rộng chừng chín mét vuông, cửa kính nhìn ra chỗ xe ra vào hầm. Trong đó có cái bàn với quyển sổ khách, cái ghế nhựa, cái quạt treo tường, một tủ sắt hai cánh đặt sát vách trong.
Sáu giờ bốn mươi sáng hai mươi tháng Một, ông Tám mở tủ sắt bằng chìa khoá ông móc ở dây lưng.
Ông lấy ra hai bộ giấy. Bộ thứ nhất là bộ sơ đồ hệ thống điện dùng cho công tác chữa cháy, bộ nào ở toà nhà này cũng có một bản trong phòng bảo vệ, giấy đã vàng ở mép, đóng dấu treo của ban quản lý. Bộ thứ hai gói trong một cái túi ni lông dày, gấp làm bốn, không có dấu treo.
Ông đặt hai bộ cạnh nhau, mở tới cùng một trang: mặt bằng tầng hầm B2, phần tủ điện tổng.
Hữu Nam đứng cúi xuống bàn. Cậu Hoàng đứng sau anh.
Bộ có dấu treo vẽ tủ tổng ba khoang. Khoang trái là đầu vào với hai át-tô-mát tổng. Khoang giữa là thanh cái với các nhánh. Khoang phải vẽ bốn nhánh đi tầng, đánh số từ một tới bốn, hết trang.
Bộ trong túi ni lông vẽ tủ tổng ba khoang. Khoang trái, khoang giữa như nhau. Khoang phải vẽ bốn nhánh đi tầng, rồi ở giữa thanh cái với bốn nhánh ấy có thêm một ký hiệu nữa, một hình chữ nhật với cái gạch chéo, bên cạnh ghi tay: *CD tách tầng, 1250A*. Dưới trang có ba chữ ký, mực xanh, nét còn tươi, chỗ chữ ký thứ hai mực bị nhoè một vệt bằng đầu ngón tay như người ký xong gấp giấy hơi sớm.
Anh nhìn hai trang giấy ấy trong một quãng lâu hơn quãng anh cần để đọc chúng.
Ba năm nay cái hình chữ nhật với cái gạch chéo ấy anh vẽ bằng miệng. Anh vẽ nó cho một ông tổ trưởng kỹ thuật vào tháng Tư năm anh hai mươi bốn tuổi, vẽ nó trong chín cái đơn xin sao lục, vẽ nó trong bốn phút ở hội trường tầng ba hôm hai mươi tám tháng Mười hai. Không lần nào anh có cái giấy này trong tay. Bản vẽ thi công năm ấy in ba bộ: một bộ ban kỹ thuật, một bộ nhà thầu, một bộ tổ kéo cáp. Anh biết ai giữ bộ thứ ba từ ba năm trước. Trong chín cái đơn của anh không có một chữ nào nhắc tới một ông bảo vệ.
— Bây giờ cậu đo.
Ông Tám gấp cái túi ni lông lại, kẹp dưới cánh tay.
— Cậu đo cái khoang phải. Cậu đo ba tiếng, đừng đo một tiếng.
Ông ghi tên anh với tên cậu Hoàng vào sổ khách, ghi giờ vào, ghi lý do: nhà cung cấp kiểm tra đồng thanh cái theo hợp đồng. Rồi ông đưa hai cái thẻ khách kẹp dây.
Hầm B2 vẫn mùi ấy, mùi bụi bê tông với dầu máy. Cái tủ tổng cao quá đầu người, sơn xám, ba cánh, cánh giữa có cửa kính nhỏ để nhìn ampe kế.
Chín giờ bốn mươi bảy phút, Hữu Nam đọc ampe kế.
Một nghìn chín trăm bảy mươi bốn am-pe.
Anh đứng thẳng lên. Chín giờ bốn mươi bảy phút ngày hai mươi tám tháng Tư năm ngoái, cùng cái mặt số này, cùng cái vạch này, kim chỉ một nghìn tám trăm bốn mươi hai. Chín tháng, cùng một giờ trong ngày, thêm một trăm ba mươi hai am-pe.
— Cậu ghi.
Anh nói.
— Chín giờ bốn mươi bảy, một nghìn chín trăm bảy mươi bốn. Rồi ghi thêm dòng dưới: hai mươi tám tháng Tư năm ngoái, chín giờ bốn mươi bảy, một nghìn tám trăm bốn mươi hai.
— Số cũ này anh lấy ở đâu ạ?
Cậu Hoàng vừa viết vừa hỏi.
— Tôi nhìn.
Trên mặt ampe kế còn một cái kim thứ hai, kim đỏ, mảnh hơn, nằm cao hơn kim đen một quãng. Kim giữ đỉnh. Nó không quay về, nó đứng ở chỗ cao nhất mà dòng đã đi tới kể từ lần có người vặn nó về không.
Nó chỉ hai nghìn ba trăm tám mươi.
Trên cánh tủ, cái nhãn định mức bắt bằng bốn con vít vẫn ghi hai nghìn am-pe.
Hữu Nam đứng đó một lúc. Hai nghìn ba trăm tám mươi trên hai nghìn. Vượt mười chín phần trăm. Không phải mười chín phần trăm ở một buổi sáng nào cả — đó là chỗ cao nhất cái tủ này đã phải chịu, ở một giờ nào đó trong ngày mà anh chưa có mặt để xem.
Anh mở cánh phải.
Chỗ trống rộng hai gang tay. Trên thanh đỡ có hai lỗ bắt vít bỏ không, miệng lỗ còn nguyên ren, chưa ai bắt gì vào đó bao giờ. Cái hình chữ nhật với cái gạch chéo trong bản vẽ nằm đúng vào chỗ này.
Anh lấy máy ra chụp: chụp cái lỗ, chụp cả cái thanh đỡ, chụp cái nhãn định mức, chụp mặt ampe kế với hai cái kim, chụp cái tờ hồ sơ bảo dưỡng dán trong cánh — lần gần nhất vẫn ghi hai mươi ba tháng Ba, chữ ký cũ, không có dòng nào thêm sau đó. Cậu Hoàng quay điện thoại một vòng chậm cả ba khoang.
Rồi anh đặt mu bàn tay lên thanh cái ở khoang giữa, chỗ đầu cốt nhánh thứ hai, giữ ba giây. Anh bỏ tay ra, đặt lên chỗ đầu cốt nhánh thứ tư, giữ ba giây.
Hai chỗ không ấm bằng nhau.
Mười một giờ hai mươi, cái rơ-le trong khoang trái nhảy. Anh bấm đồng hồ. Trong sáu phút sau đó nó nhảy mười hai lần.
Hai lần một phút. Đúng cái số anh đếm hôm hai mươi tám tháng Tư, đứng đúng chỗ này, tay không có máy ảnh, người không có ai đi cùng, trong người có tờ vé anh chưa đi lĩnh.
Anh đo tới mười hai giờ bốn mươi. Ba tiếng mười phút.
Biên bản viết ngay trong phòng bảo vệ, viết tay hai trang, cậu Hoàng viết theo lời anh đọc. Ngày, giờ từng số đo, số hiệu ampe kế, số trên nhãn định mức, số trên tờ bảo dưỡng, số lần rơ-le nhảy trong sáu phút. Không có một dòng nhận định nào. Ba người ký: anh, cậu Hoàng, rồi ông Tám ký cuối, ký chậm, chữ cuối kéo xuống dưới dòng.
Bàn tay ông Tám giữ tờ giấy trong lúc ký. Ngón trỏ tay trái ông thiếu một khúc đầu, thiếu từ năm chín tám, hồi ông kéo cáp cho một toà nhà bên kia sông.
Tối, ở phòng có điều hoà tại xưởng, cô Thanh Trúc đọc hai trang biên bản với ba mươi mấy tấm ảnh trong hai tiếng. Cô soạn lại thành một văn bản kiến nghị, đánh số, dẫn điều khoản, kèm phụ lục ảnh có đánh số từng tấm, kèm bản sao bộ sơ đồ có dấu treo với bộ trong túi ni lông đặt cạnh nhau trên cùng một trang.
— Cái này gửi đi được.
Cô nói.
— Nó không phải lời một người thợ nữa. Nó là hai bộ giấy vênh nhau, kèm số đo có ba người ký.
Rồi cô đặt bút xuống.
— Anh nói em nghe một câu, nói bằng chữ của anh. Nếu cái tủ đó sự cố thì tới đâu.
— Mất điện toàn toà.
Hữu Nam nói.
— Thang máy dừng giữa tầng, dừng chỗ nào thì đứng chỗ đó, tại máy phát dự phòng của toà nhà lấy tín hiệu từ chính cái tủ ấy. Còn nếu cháy ở thanh cái thì nó không cháy tại chỗ. Thanh cái đi trong hộp gen, hộp gen thông từ hầm lên, cháy trong hộp gen thì nó lên bốn tầng đầu trước khi có ai kịp gọi ai.
Cô Thanh Trúc không hỏi thêm.
Ông Tám vào ca sáu giờ sáng hôm sau. Hữu Nam tới quán nước đầu đường từ năm giờ bốn mươi, chờ hai mươi phút. Ông tới, vẫn cái áo bảo vệ, cái túi ni lông kẹp dưới cánh tay.
— Chú cho con mượn bản gốc.
Anh nói.
— Cô Trúc cần bản gốc để đối chiếu, chỉ hai hôm, con mang trả chú.
Ông Tám đặt cái túi lên bàn nhựa. Ông không mở nó. Ông gấp mép túi cho vuông lại, rồi ông kẹp nó trở vào cánh tay.
— Bản này tôi giữ hai mươi năm rồi.
Ông nói.
— Không phải ba năm.
Hữu Nam mở miệng. Cái bản vẽ ấy đề năm hai nghìn hai mươi ba, có chữ ký tươi, ba năm.
Ông Tám đã đứng lên, đang móc tiền trả cô chủ quán hai cốc trà đá.
Bộ này chưa có tập nghe nào. Bản chữ ở đây đọc trọn được ngay.
@tram.truyen89