Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 7 phút · 1.306 từ
Từ sau hôm giỗ mẹ, suốt cuối tháng ba sang tháng tư, tuần nào tôi cũng đóng cửa tiệm một hai ngày để bắt xe bảy mươi cây số về xóm Chay. Cái quạt cây dán băng dính ở góc tiệm đứng im ru, lồng sắt bám đầy bụi vải từ mấy bận cắt may dở dang, còn ba thân áo dài màu ngọc bích nằm phẳng lì trên mặt bàn, cổ áo hãy còn bỏ ngỏ chưa lên form. Tôi với lấy chiếc điện thoại màn hình đã nứt một đường ở góc, ngón tay cái miết đi miết lại mép bàn phím, bấm gọi nhanh hơn thường lệ, giọng bỗng nghẹn lại ở cổ họng khi bên kia vừa nhấc máy. Chị khách hẹn chiều nay lấy đồ để kịp bữa tiệc mừng thọ bên ngoại, nghe tôi lắp bắp xin khất thêm mấy ngày thì cúp máy cái cụp, dứt khoát không một lời thừa thãi. Tôi gọi tiếp cuộc thứ hai, rồi cuộc thứ ba, tự tay bấm nút hoàn tiền và chuyển khoản đền cọc cho cả ba vị khách đã tin tưởng gửi gắm mấy bộ vải quý. Mười bốn triệu đồng tiền đền cọc bay biến trong mấy phút, kéo theo bốn mối quen, trong đó có một mối năm nào cũng đặt áo cho cả nhà ở cái tiệm nhỏ trong ngõ Cây Gạo này, cắt đứt luôn cả cái danh giữ tín mà mẹ tôi từng dặn dò giữ lấy từng chút một thời bà còn sống. Cửa sắt kéo ào xuống một nửa, cạch một tiếng, bà bán xôi đầu ngõ đi ngang qua liếc nhìn vào ma-nơ-canh đã bị trùm tấm vải bạt cáu bẩn lên tận cổ, cái điệu bộ lắc đầu thở dài ấy đủ cho cả cái ngõ nhỏ này biết tiệm may của cái Nhài sắp sửa đóng cửa đến nơi rồi. Điện thoại vừa rung lên tin nhắn nhắc nợ tiền thuê mặt bằng hàng tháng từ ông chủ nhà, tôi cúi đầu bấm bụng nhắn lại xin khất hai tháng, nợ dồn lại chín triệu đồng, bên ấy trả lại một câu ngắn gọn như ra lệnh rằng đây là lần cuối cùng cho nợ. Tôi đẩy hộp cúc áo bằng thiếc của mẹ vào sâu trong góc bàn, tôi buông thõng hai tay, tự hỏi nếu bỏ cả cái tiệm này để lủi thủi về quê, liệu khi đối mặt với bố ở cái nhà cấp bốn xóm Chay, tôi có thốt ra được nửa câu ra hồn không.
---
Cái mùi dầu máy khâu ngai ngái quen thuộc xộc thẳng vào mũi ngay lúc tôi bước qua hiên nhà, gợi nhắc ngay đến những chủ nhật ngày trước khi bố cẩn thận lấy từng giọt dầu tra vào chiếc máy cũ của mẹ, việc duy nhất trong cái nhà này ông tự tay làm mà chẳng cần ai nhắc nhở một lời. Tôi lẳng lặng cầm vội chiếc cốc nhôm đi ra bể nước rửa cho có việc để làm, mắt liếc qua dây phơi ngoài sân thấy mấy cái áo sơ mi của đàn ông phơi chung với chiếc khăn mặt màu hồng quen thuộc. Con Châm đã quay lại thật rồi, nồi cơm trên bếp củi còn âm ấm, đôi dép nhựa quai hậu màu xanh sờn cạnh vẫn nằm ngay ngắn sát bên đôi dép nhựa của mẹ, tựa như chưa từng có cuộc ra đi nào xé toạc cái gia đình này ra làm đôi. Bố ngồi lom khom bên chiếc bàn gỗ mọt ăn lỗ chỗ, bàn tay gầy guộc cầm chiếc lọ nhỏ nhỏ từng giọt dầu nhớp nháp lên trục quay của máy khâu, tấm lưng còng gập xuống quay hẳn về phía tôi không một chút động tĩnh, mặc cho đứa con gái ruột đứng chôn chân giữa nhà từ lúc nào. Tôi đành cất tiếng hỏi han dăm ba câu về sức khỏe của ông, nhưng bố chỉ hừ nhẹ một tiếng rồi rút gọn mọi câu trả lời xuống còn ba bốn chữ cộc lốc, bàn tay vẫn không ngừng tra dầu, đoạn quay lưng vơ lấy chồng sách cũ xếp lại lên kệ như thể trong nhà chẳng có ai ngoài hai cái bóng thừa thãi. Khi tôi gặng hỏi thẳng về người đàn bà vừa chuyển đến ở chung, bố khựng tay lại một nhịp, rồi nhắc nguyên văn câu Châm vẫn nói với ông, giọng lạnh tanh: «Chị ấy sợ mất phần.» Câu ấy hệt như một gáo nước lạnh dội thẳng vào mặt đứa con gái đang cố vớt vát chút tình thân cuối cùng. Tôi đứng thừ ra đó chưa quá nửa tiếng đồng hồ, cái thời gian ngắn ngủi chẳng đủ để húp hết lưng bát canh nguội ngắt, vậy mà mọi câu tôi định thưa với bố đều đã có người khác kịp thời nhào nặn và dịch lại hết cho ông nghe từ đầu đến cuối.
---
Bà Nhót gọi điện ra liền hai lần vào cái buổi chiều nắng gắt rọi thẳng qua khung cửa sổ tiệm may, lần nào cũng mở đầu bằng câu nói quen thuộc rằng bà có biết gì chuyện thiên hạ đâu, rồi mới chịu hạ giọng rỉ tai kể lể vòng vo đủ thứ chuyện giời ơi đất hỡi trong xóm. Tôi vừa kẹp chiếc điện thoại vào cổ vừa lóng ngóng xỏ sợi chỉ qua lỗ kim nhỏ xíu, tai lắng nghe từng tiếng gà cục tác ngoài ngõ và tiếng thở khò khè của bà lão ở đầu dây bên kia, cho đến khi nghe lọt tai câu chuyện ông giáo tháng này bỏ buổi họp hội hưu trí vì bận lên huyện. Mấy người hàng xóm còn truyền tai nhau rằng dạo này ông giáo vui vẻ hẳn lên sau cái chuyến xe khách chở lên huyện dạo trước. Cái kim khâu trên tay bỗng chệch hướng đâm phập một cái vào đầu ngón tay rớm máu, tôi vội rụt tay lại, nghe tiếng bà Nhót hạ thấp giọng dặn với theo là đừng có khai tên bà ra với ai trong cái xóm này, lòng dấy lên cái cảm giác chua chát rằng mỗi một mẩu tin vụn vặt về bố đều phải đánh đổi bằng mấy đồng tiền điện thoại và tiền xe ôm nhờ vả người ngoài.
---
Đêm xuống, ngõ Cây Gạo chìm vào cái tĩnh mịch đặc quánh của khu lao động nghèo, trong tiệm may chật chội chỉ còn ngọn đèn bàn vàng vọt hắt bóng người đơn độc của tôi trên bức tường loang lổ vết ẩm mốc. Tôi ngồi bệt xuống chiếc ghế nhựa thấp lè tè, hai tay úp chặt lên đùi tính toán lại từng khoản tiền xe cộ đi lại giữa thành phố và xóm Chay, tiền gửi quà cáp cho bà Nhót để đổi lấy dăm ba câu tin tức, cộng với mười bốn triệu tiền đền cọc vừa rồi đang đè nặng lên đôi vai gầy. Lặng đi một lúc lâu, tôi với lấy một cuốn vở gáy vải đã cũ của học sinh bỏ lại góc bàn, mở trang giấy trắng tinh ra nắn nót ghi lại từng ngày, từng việc và số tiền tiêu pha cho mỗi chuyến về quê bằng nét chữ thẳng băng ngày trước chính tay bố cầm tay dạy viết. Món nợ chín triệu đồng tiền thuê nhà giục giã trong đầu, kèm theo tờ rơi gập tư nhàu nát in dòng địa chỉ của cái viện dưỡng lão ở Vĩnh Khê cộm lên ở góc túi áo khoác, ép tôi phải đưa ra cái quyết định chẳng đặng đừng là phải tự mình xách xe đi tìm cho bằng được cái nơi mà người ta đang đồn đại ấy.