Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 10 phút · 1.997 từ
Tiếng chân chống xe máy dập cạch xuống nền xi măng trước cửa ngõ Cây Gạo cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi. Người đàn ông ngoài ba mươi tuổi ném bao tải dứa căng phồng xuống góc phòng sau tiệm may, phủi bụi bám trên ống quần rồi rút từ túi đeo chéo ra một tệp giấy kẹp bìa cứng, chìa về phía tôi.
— Hàng đây chị. Ba trăm khăn lụa đỏ, thêu tên góc dưới bên phải. Hôm nay là ngày thứ nhất của hạn, còn bốn ngày tới hạn giao, chậm một buổi là trừ nửa tiền công đấy
.
Tôi cúi xuống kéo miệng bao tải, đếm từng bó khăn, miệng đọc đều đều:
— Hai mươi, bốn mươi, sáu mươi. Đủ sấp mười cái
.
— Chị đếm thế biết chừng nào xong
. Anh ta gõ đầu ngón tay lên tờ giấy kẹp phía trên, sốt ruột giục,
— Danh sách có ba trang, cột họ tên bên trái, cột số điện thoại bên phải. Dưới cùng là phiếu yêu cầu giao đợt cuối tận sảnh trung tâm hội nghị Thiên Phú. Tôi đưa để chị thêu theo thứ tự, làm xong trả lại từng tờ, không được làm rách làm bẩn. Cứ hai tiếng tôi gọi kiểm tiến độ một lần
.
Tôi không ngẩng lên, ngón tay phải cứ vuốt đi vuốt lại mép tờ danh sách cho phẳng nếp gập:
— Chậm hay nhanh thì ngày chót vẫn có khăn ở Thiên Phú cho anh, giục làm gì cho rối ruột
.
— Việc gấp của công ty, trên giục xuống thì tôi giục chị
.
Anh ta liếc thấy tôi lật tờ giấy quá chậm, bèn cúi xuống gõ móng tay lách cách lên tờ phiếu giao hàng:
— Nhìn kỹ cái địa chỉ giao sảnh lớn đấy, đừng có mang nhầm sang bên tiệc cưới
.
— Biết rồi
.
Tôi đáp ngắn gọn, đợi tiếng xe của anh ta khuất hẳn ra đường lớn mới kéo ghế ngồi xuống sát chân bàn máy may. Hộp cúc áo bằng sắt tây của mẹ đặt trên bệ cửa sổ, sơn vàng đã tróc loang lổ để lộ vệt gỉ sét sẫm màu. Tôi nhấc cuộn chỉ thêu màu đỏ thắm từ trong lòng hộp ra, luồn qua trôn kim. Mùi sắt han lẫn mùi dầu máy bốc lên ngai ngái. Mười năm trước mẹ ngồi bên cái hộp này đơm cúc áo bông cho hai bố con, lúc nào cũng dặn đường kim mũi chỉ là cái nết người ta nhìn vào đầu tiên, thêu vụng thì quần áo mất dáng, mà thêu ẩu thì lòng dạ cũng lệch theo.
Tôi cắm mũi kim qua lớp lụa đỏ, kéo chỉ đỏ thêu cái tên đầu tiên. Nét chữ nổi dần lên mặt lụa. Nhưng đến cái tên thứ mười, mũi kim trên tay tôi chậm dần.
Tôi đứng dậy, đi lại góc bếp châm lửa đun ấm nước nhỏ, thả nắm chè búp khô vào chiếc tích sành cáu vàng rồi rót ra bát con. Ngụm chè đắng chát đọng lại nơi cuống họng, tôi quay lại ngồi xuống ghế, lật tiếp tờ giấy. Đến cái tên thứ hai mươi mốt, tay tôi bủn rủn, chiếc kim thêu tuột khỏi kẽ tay rơi xuống mặt gỗ nghe cạch một tiếng nhỏ.
Hai mươi mốt người này tôi đều biết mặt. Ông Lê Văn Chuẩn, bà Phạm Thị Tảo, rồi mười chín cụ già khác vẫn ngồi uống chè dưới giàn hoa giấy ở sân sau nhà văn hoá phường mỗi buổi sáng sớm. Từng người một, không sai một nét, không lệch một họ. Thứ tự trên ba trang giấy in vi tính này trùng khớp thứ tự từng dòng trong cuốn sổ bìa xanh của hội hưu trí, cuốn sổ bố tôi mượn về rồi trả muộn hai tuần hồi mùa xuân. Cái nét chữ nghiêng đều, mực tím của bố thì tôi nhớ đến từng nét sau những đêm ông thức chong đèn ngoài bàn nước.
Ruột tôi nóng lên từng cơn. Mỗi cái tên tôi thêu lên đây, chẳng khác nào chính tay tôi kê thêm một chiếc ghế cho buổi thu tiền của người ta. Tôi lôi tờ giấy lót vải thô dày dặn ra, trở mặt sau còn trắng tinh, cầm mẩu bút chì cặm cụi chép lại từng cái tên, từng dãy số điện thoại và địa chỉ cho đến khi mắt cay xè dưới ngọn đèn bàn. Gần sáng, tờ giấy chép tay đã nằm gọn trong đáy hộp cúc.
Nhưng danh sách gốc người ta chỉ cho mượn rồi thu lại, tôi giữ một mảnh giấy chép tay này thì làm sao làm bằng chứng trước mặt người khác?
---
Mùi vải lụa mới thoang thoảng trong căn phòng nhỏ bị mùi khói xe máy xộc vào xua tan hết. Anh Doanh đẩy cửa bước vào, người đầu mối trung gian theo sát sau lưng, vẻ mặt cau có như người mất ngủ.
Tôi đứng bên bàn may, tay thoăn thoắt gấp những chiếc khăn đã hoàn thiện đợt một thành từng chồng mười chiếc ngay ngắn, mép thêu đỏ rực quay lên trên. Người đầu mối bước tới, chìa bàn tay thô ráp ra trước mặt tôi:
— Xong một trăm cái đầu chưa chị? Cho tôi lấy hàng với thu lại tập danh sách mang về nộp bên văn phòng
.
Tôi ngẩng lên nhìn anh Doanh, thấy nét mặt anh vẫn lặng như tờ. Lòng tôi thắt lại, sợ nói to trước mặt người ngoài thì hỏng hết chuyện, bèn nói nhỏ, dồn từng chữ thật nhanh khi đặt chồng khăn lên mặt bàn:
— Tên ông Chuẩn với bà Tảo nằm ngay trang đầu danh sách này anh. Cùng thứ tự với cuốn sổ của hội hôm nọ
.
Anh Doanh khẽ nghiêng đầu nghe hết câu, đuôi mắt hơi chùng xuống nhưng rất nhanh đã lấy lại vẻ bình thản. Anh bước tới chắn giữa tôi và người đầu mối, vươn tay cầm lấy tập danh sách kẹp bìa cứng đang nằm trên máy may:
— Hàng tôi lấy về kho của tôi, tôi phải kiểm đủ tên từng người mới nhận hàng. Sai một chữ các ông không trả tiền cho thợ thì ai chịu?
.
Người đầu mối ngẩn ra nhìn anh Doanh, thấy dáng người vạm vỡ và giọng điệu chắc nịch của một chủ hàng có thâm niên, liền chép miệng lùi lại một bước:
— Bác cứ vẽ chuyện. Hàng người ta thêu xong có danh sách đi kèm đó, đếm đủ cái là được chứ gì
.
— Đủ cái mà lộn tên cũng vứt
. Anh Doanh gạt phắt đi,
— Ra ngoài uống chén nước đi, để tôi rà lại
.
Người đầu mối ngần ngừ một lát rồi quay lưng bước ra bậc thềm châm thuốc lá.
Trong phòng chỉ còn tiếng lật giấy sột soạt. Anh Doanh bấm máy lia qua từng trang một, không bỏ sót mép giấy nào. Ánh sáng từ màn hình hắt lên những dòng chữ chi chít, quét qua cả tờ phiếu giao hàng có vẽ sơ đồ chỗ tập kết ở sảnh lớn. Anh chụp liên tục, động tác dứt khoát không thừa một cử chỉ. Chụp xong trang cuối, anh gập kẹp bìa lại, đưa cho tôi một cái gật đầu kín đáo.
Tôi bước ra cửa, đưa tập giấy cho người đầu mối:
— Danh sách của anh đây, đủ ba trang không thiếu dòng nào
.
Anh ta cầm lấy, kiểm tra lại mép kẹp rồi nhét tọt vào túi đeo chéo, ngoắc tay gọi anh Doanh khiêng bao khăn đợt một ra xe. Tôi đứng dựa vào khung cửa gỗ, nhìn theo bóng lưng hai người dần khuất sau khúc quanh của ngõ Cây Gạo. Danh sách và sơ đồ đã có trong tay anh Doanh, nhưng chỗ người ta ngồi thu tiền trong cái hội nghị sang trọng kia được bày biện ra sao? Muốn biết, chỉ còn cách vào tận nơi.
---
Sáng giao đợt cuối, sảnh trung tâm hội nghị Thiên Phú sáng choang dưới dàn đèn chùm pha lê, sàn đá hoa cương mài bóng đến mức soi rõ từng cái bóng lướt qua. Không khí nồng nặc mùi nước hoa xịt phòng đắt tiền lẫn mùi thảm mới.
Tôi ôm thùng các-tông đựng hai trăm chiếc khăn đợt cuối, vừa bước qua cánh cửa kính lớn thì người đầu mối đã từ góc hành lang xộc ra, chặn ngang lối đi.
— Đưa tôi bê vào cho, chị đứng đây ký vào tờ biên nhận này rồi cầm tiền đi về
.
Anh ta chìa ra tờ giấy in sẵn chữ cùng một chiếc bút bi, ngón tay gõ mạnh vào dòng ký tên người giao. Tôi cầm lấy cây bút, cố tình ký thật chậm rãi, đầu ngón tay miết đi miết lại mép tờ biên nhận đến khi quăn cả một góc giấy.
Mấy nhân viên mặc đồng phục đang xúm lại kê một dãy bàn dài trải khăn đỏ thắm ngay gần cửa ra vào. Một người trong số họ đặt chiếc thùng bằng tôn có khoét khe hẹp trên nắp xuống cạnh khay đựng bút máy, rồi liếc mắt nhìn tôi đứng chôn chân ở cửa đã quá lâu. Thấy tôi vẫn không nhúc nhích, họ chẳng buồn bận tâm nữa, quay sang dán một tờ phân công lên mảng kính lớn. Tôi nheo mắt nhìn dòng chữ in đậm trên tờ giấy dán kính: phân công ca trực nhận phong bì đóng góp của các hội viên trước giờ khai mạc, từng mốc giờ ghi rành rọt.
Tôi vờ làm rơi nắp bút bi, cúi người xuống nhặt, bàn tay thọc nhanh vào túi áo rút ra mẩu giấy lót vải thô còn nhét từ hôm trước. Dưới góc khuất của cánh tay, tôi dùng đầu bút chì chép vội vị trí dãy bàn kê sát cửa, chiếc thùng tôn cạnh hộp bút và mấy con số ghi giờ thu tiền vào mặt sau tờ giấy.
— Ký xong chưa? Lề mề thế!
. Người đầu mối giật phắt tờ biên nhận trên tay tôi, liếc qua chữ ký rồi rút ra một cọc tiền buộc dây chun, đập vào tay tôi,
— Hai mươi mốt triệu tiền công thêu toàn bộ đơn hàng. Đếm đi rồi về, ở đây lát nữa đón khách lớn, thợ thuyền không lảng vảng được đâu
.
Tôi cầm cọc tiền nhét sâu vào đáy túi xách, không nói thêm một lời, quay người rảo bước ra khỏi sảnh lớn.
Ngoài đường, còi xe inh ỏi chát chúa bên tai. Về tới căn phòng sau tiệm may ngõ Cây Gạo, việc đầu tiên tôi làm là mở máy chuyển khoản cho ông chủ nhà đủ chín triệu tiền thuê mặt bằng còn khất từ hồi đầu năm. Chuyển xong, cọc tiền mặt trên bàn còn lại mười hai triệu, lồng ngực tôi không nhẹ đi chút nào mà càng thêm tức nghẹn.
Tôi rút từ trong túi áo ra mảnh giấy lót vải có chép sơ đồ và giờ giấc, vuốt phẳng phiu rồi đặt cạnh tập ảnh chụp danh sách mà anh Doanh vừa gửi sang máy tôi. Cạnh đó là tập bìa còng cũ kỹ tôi mang về từ hôm ngăn kéo máy khâu bật tung ngoài hiên.
Nét chữ của bố trong cuốn sổ bìa xanh của hội hưu trí cứ hiện lên trước mắt tôi. Bố tôi mượn cuốn sổ ấy về, vậy ông đã trao nó vào tay ai, và vì cớ gì đến tận giờ phút này tên của ông vẫn nằm chình ình trên giấy mời tham dự với tư cách người đại diện? Miếng mồi danh dự hay một gông cùm vô hình nào đó đang giữ chặt lấy chân ông, liệu có nằm trong những trang giấy ố vàng bên trong cái tập bìa còng này?