Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 7 phút · 1.311 từ
Chiếc nồi đất bé tẹo còn ấm trong tay tôi, mùi gạo mới lẫn với mùi sương đêm còn ngấm trong vách tường gạch. Bác Thịnh bước đi bên cạnh tôi, tay xách chiếc túi vải dày cộp nặng trịch, cái bóng hai bác cháu đổ dài trên những ô gạch hoa đã bong tróc nước men. Ngay trước ngưỡng cửa nhà ông Hoà, bác khựng lại một nhịp, bàn tay săn lại vì cầm cờ lê nhiều năm cứ mân mê cái nắp nồi bằng đất, nâng lên rồi lại đặt xuống phát ra tiếng
— kịch
nho nhỏ, nghe như một tiếng thở dài bị nén. Bác ngoảnh lưng hẳn về phía cái giường gấp kê sát góc tường, cái lưng hơi còng xuống như muốn chắn hết gió lùa từ hành lang. Chỉ chờ cháo chín tới là bác nhấc chân đi ngay.
Ngón tay tôi run nhẹ, đè chặt lên mép túi vải. Cái cảm giác sợ hãi từ tối qua lại dồn lên cổ họng, lo rằng chỉ cần bác thấy tờ báo cáo ấy, bác sẽ quay lưng bước ra khỏi cửa, vĩnh viễn khép lại cánh cửa này. Tôi cúi đầu múc từng muỗng cháo cá ra bát, múc xong lại kiên nhẫn đỡ ông Hoà ngồi tựa vào vách tường, bón từng thìa một cho ông. Đôi mắt đục ngầu của ông Hoà không nhìn vào bát cháo, ông cứ nhìn chằm chằm vào cái túi vải tôi đặt bên góc giường, rồi lại liếc sang cái lưng rộng bản của bác Thịnh đang đứng bên bệ rửa.
Chờ đến khi bát cháo cuối cùng được rửa sạch, tiếng nước chảy nhỏ dần rồi tắt hẳn, tôi mới thò tay vào túi, rút ra tờ giấy báo cáo chi tiêu của nguyên đơn. Tôi đặt tờ giấy xuống mặt chiếu, không một tiếng động.
— Năm ngoái, ba khoản sửa ống nước tổng cộng hết chín mươi lăm triệu
.
Tôi đọc to từng chữ, giọng mình phẳng lỳ nhưng tim đập liên hồi trong ngực. Bác Thịnh vẫn đứng yên quay lưng lại.
— Đến khoản hai mươi tư triệu này, ghi là thay cụm đầu đọc thẻ thang máy và sửa đoạn ống ngấm ngay tầng nhà ông Hoà...
Bác Thịnh quay lại, đôi mắt nheo lại, nhìn tờ giấy nằm trên chiếu. Bác bước tới, nghiêng cạnh bàn tay gạt sạch những mẩu vụn bánh quy khô khốc còn sót lại trên mặt bàn thành một đống nhỏ, rồi lùa gọn gàng vào lòng bàn tay kia. Bác đưa tay lên sau tai, rút ra cây bút chì thợ dẹt bản, ngón tay lạnh vỗ nhẹ vào thân gỗ đã mòn vẹt, rồi lại gài cẩn thận lại sau vành tai. Bác không đi ra cửa nữa. Bác xoay người, chậm rãi ngồi xuống mép giường gấp, tiếng dây thép ken két dưới sức nặng của một người đàn ông làm thợ cả đời.
---
Bác Thịnh đặt cuốn sổ bìa xanh lên hai đầu gối. Da bàn tay bác nhăn nhúm, xám xịt bụi vữa, ngón tay cái đưa lên miệng liếm nhẹ một cái, rồi lật đi lật lại những trang giấy kẹp đầy vết ố. Bác lật thong thả, mắt không nhìn vào chữ mà liếc sang phía ông Hoà đang nằm thở khò khè.
Tôi khẽ lùi lại một bước, hai tay áp chặt vào đầu gối, chiếc điện thoại đã nằm tận đáy túi vải. Mắt tôi dán vào chiếc khăn mặt đang phủ trên bàn cờ tướng dở dang, không dám đưa mắt nhìn lấy một dòng trong cuốn sổ. Tôi sợ cái giá bác sắp sửa trả cho sự thật này còn đắt hơn cả sự im lặng mà bác đã giữ suốt bao nhiêu năm qua.
Bên cạnh, ông Hoà chớp mắt liên tục, một dòng nước mắt ứa ra từ khóe mắt nhăn nheo, chảy dài xuống một bên má. Bàn tay phải run rẩy của ông mò mẫm dưới cái khăn mặt, chạm vào những quân cờ gỗ nhẵn thín, rồi gõ nhẹ đốt ngón tay trỏ xuống thành giường sắt ba tiếng
— cốc, cốc, cốc
. Tiếng gõ như gõ vào lòng người, thúc giục người bạn già đang ngập ngừng trước vực thẳm.
Bác Thịnh hít một hơi sâu, hơi thở ra nghe nặng, lồng ngực lép kẹp. Bác bắt đầu đọc thành tiếng, giọng ồm ồm, đọc được vài chữ lại ngắt:
— Tháng chín năm ngoái. Đưa thợ hai triệu thay cụm đầu đọc thẻ thang máy ở tầng này
.
Giữa trang sổ, một mẩu giấy biên nhận ố vàng, vuốt phẳng kẹp sẵn, rơi ra một nửa. Hai triệu, đối lại với con số hai mươi tư triệu in trên tờ báo cáo dán ngoài bảng tin.
— Dòng thứ hai, tiền sửa đoạn ống rò...
Giọng bác Thịnh trầm xuống, con số bác đọc ra thấp hơn rất nhiều so với tờ giấy in dấu đỏ. Bác dừng lại một nhịp dài, ngón tay cái sần sùi miết nhẹ lên dòng chữ cuối cùng trong trang:
— Ông Hoà ngã ở tầng sáu
.
Bác đọc xong câu đó thì im bặt. Bác cẩn thận gấp cuốn sổ lại, đút gọn vào lòng chiếc túi vải dày. Bác ngẩng lên nhìn tôi, ánh mắt như muốn hỏi một điều gì đó mà không thốt nổi thành lời.
— Chữ ký trên đơn là cháu tự đi xin từng nhà
, tôi nhìn thẳng vào mắt bác, giọng rành rọt.
— Còn cuốn sổ này là của bác. Bác đặt nó ở đâu, giữ hay bỏ, đấy là việc của bác
.
---
Trời tối hẳn khi tôi bế bé Mây bước lên những bậc cầu thang dẫn về phía nhà bác Thịnh. Chiếc nồi đất đã được rửa sạch sẽ, ráo nước, tôi ôm sát vào trước bụng để tránh cái lạnh đầu mùa đang luồn qua khe cửa ban công.
Đứng trước cánh cửa nhà bác Thịnh đang khép hờ, tôi khựng lại. Bà Kim ngồi chễm chệ trên chiếc ghế sofa bọc da còn nguyên lớp nilon chưa bóc, dáng ngồi chèn ngay chính giữa khoảng trống nhìn ra cửa. Trước mặt bà, bác Thịnh đứng tựa lưng vào mép tủ, giọng nói trầm đục vang lên đều đều. Bà Kim không đáp lại một từ nào. Bàn tay đeo chiếc nhẫn vàng bản to của bà xoay xoay chùm chìa khóa tủ hồ sơ, phát ra những tiếng
— keng, keng
lạnh ngắt. Bà rót một chén trà nóng đầy tràn cả ra đĩa, nhưng tuyệt nhiên không đưa lên miệng.
Tôi đứng nép bên khe cửa, ôm chặt cái nồi đất trong lòng. Bé Mây thò tay bấu chặt lấy gấu áo tôi, đôi mắt tròn xoe nhìn qua khoảng hẹp, nó im thin thít, không dám thở mạnh. Ngoài ban công, bên cạnh thùng gỗ đựng đồ nghề điện nước xám xịt của bác Thịnh, chiếc chăn bông cũ và cái gối gấm đã được dọn sẵn ra đấy từ lúc nào.
Bác Thịnh đã nói hết. Bác đã đem dòng chữ năm ngoái ra đọc trước mặt người ngoài, và cái giá phải trả hiện ra ngay trước mắt bác. Tôi không bước qua ngưỡng cửa ấy. Tôi nhẹ nhàng đặt chiếc nồi đất xuống bậc cửa đá mài, nắm tay bé Mây dắt đi về hướng phòng 904.
Về đến nhà, tôi ngồi lặng bên bàn ăn rất lâu. Trên đầu tôi ba tầng, có một ông già đang trải chăn ngủ ngoài ban công nhà mình, chỉ vì đã đọc to ba dòng mực cho người ngoài nghe. Tôi tự hứa sẽ không bao giờ đụng đến một dòng nào trong cuốn sổ bìa xanh ấy. Nếu có ngày nó được đọc trước cả toà nhà, thì phải là chính tay bác mở ra.