Xe Hoa Quả Của Mẹ
Đăng nhập
Chương 19 / 24

Tầng bảy, cái bàn trà và bình hoa ly

Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 7 phút · 1.461 từ

Xe Hoa Quả Của Mẹ — chương 19 — Tầng bảy, cái bàn trà và bình hoa ly

Tờ polymer năm mươi nghìn đã cũ, nhàu đi, mềm oặt và quăn mép. Mẹ vuốt đi vuốt lại trên mặt bao tải dứa trải lề đường, cố làm cho nó phẳng ra để xếp chung với mấy tờ năm nghìn, hai nghìn quắn góc.

— Được một trăm mốt, trừ tiền hai kilô bưởi thối ban sáng thì vừa vặn một trăm

.

Tôi nói rồi gom xấp tiền lẻ nhét vào túi chiếc áo khoác cũ. Mẹ không ngẩng lên, ngón tay cái vẫn di di trên lớp ni lông bao tải, mắt cứ trôi về phía gốc bàng cụt trong sân chợ. Cái vạch sơn trắng dưới gốc bàng mẹ tự tay cầm gáo vôi kẻ từ cái năm hai nghìn mười một, giờ nằm khuất dưới chân sạp người khác. Mẹ bán ngoài lề đường, nắng hanh rát mặt, tiếng còi xe máy gầm rú ngay sát mạn sườn làm mẹ hay giật mình.

— Bưởi ngọt đấy, nhưng người ta chê quả nhỏ. Hàng Tết mà không kiếm được cái sạp tử tế dưới gốc bàng thì đến ba mươi Tết cũng không gỡ nổi tiền vay

.

Bà Tho bên quán nước ghé lưng vào cọc sắt, tay cầm chiếc muôi nhôm múc đá, ánh mắt soi qua làn khói thuốc lá về phía hai mẹ con tôi. Bà nhìn xấp tiền lẻ trên tay mẹ, rồi húp một ngụm trà nguội, hạ giọng vừa đủ cho một mình tôi nghe.

— Căn hộ bảy không hai, chung cư Mỹ Lộc. Nó ở trên đó. Mày muốn xin lại chỗ cho mẹ thì đi một mình thôi. Cởi cái áo xanh ấy ra, mặc áo thường vào mà đi

.

Bà Tho không nhìn tôi nữa, tay lại chao chao cái muôi trong thùng đá. Bà thừa hiểu cái áo gió màu xanh của đội trật tự đô thị phường có sức nặng thế nào ở cái chợ này, nhưng đến cửa nhà người ta mà khoác cái mác ấy vào thì chỉ có ăn chửi. Chiếc cọc sạp gỗ dưới gốc bàng cụt vẫn dán chặt tờ giấy phân ô đóng dấu đỏ chói của công ty khai thác, cao quá đầu người. Tôi đứng dưới nhìn lên không với tới, mà người giữ tờ giấy ấy lại đang chót vót trên tầng chung cư. Một bà bán hoa quả dạo cả đời chưa bước qua cổng ủy ban phường liệu có đòi nổi cái chỗ ngồi từ tay người có giấy trắng mực đen?

---

Mùi ẩm mốc xộc lên ngay từ chân cầu thang chung cư Mỹ Lộc. Bóng đèn cảm ứng ở dãy hành lang hẹp cứ nhấp nháy liên hồi, mỗi bước chân tôi trên nền gạch vỡ lại kéo theo một tiếng

— tạch

khô khốc, ánh sáng vàng vọt bật lên rồi phụt tắt.

Tôi dừng trước cửa căn hộ bảy không hai, tim đập nhanh. Cánh cửa gỗ công nghiệp hé ra, chị Ngát đứng đó, tay cầm chiếc khăn lau lấm đốm bụi. Chị nhìn tôi từ đầu đến chân, khóe miệng nhếch lên trước khi cất lời.

— Tín đấy à? Mẹ cậu lại sai cậu lên đây đòi chỗ đấy?

— Em chào chị Ngát. Em lên nói chuyện cái sạp ngoài chợ

.

Tôi bước vào phòng, mắt đảo qua bộ ghế sofa bọc da đã sờn góc. Trên kệ tủ kính bày bộ ấm chén gốm, chị Ngát đứng đó, dùng ngón tay trỏ chậm rãi gạt đi gạt lại lớp bụi mỏng bám trên mặt kính. Chị gạt đi gạt lại đúng một chỗ, tạo thành một vệt sạch bóng loáng giữa nền mờ.

— Chị biết đấy, cái vạch sơn trắng dưới gốc bàng là mẹ em tự kẻ từ năm hai nghìn mười một. Mười lăm năm nay mẹ ngồi đó...

— Vạch sơn nào?

Chị Ngát ngắt lời, ngón tay ngừng chuyển động trên mặt kính, mắt chị nheo lại nhìn tôi.

— Công ty cấp ô đó cho chị, có giấy tờ, có dấu đỏ đàng hoàng. Chị lấy quyền gì mà trả lại cho mẹ cậu?

Tôi nén một hơi thở dài. Chuyện mẹ từng phải dúi phong bì cho người ta để giữ chỗ tôi không thể nói ra, càng không thể để lộ việc mình đang làm ở đội trật tự đô thị. Nhưng cái cách chị gạt vết bụi trên tủ kính tố cáo rằng chị thừa biết ai mới là người gắn bó với góc chợ đó suốt bao năm qua. Lời tôi nói rơi tõm vào khoảng im lặng. Chị Ngát xoay người lại, định nói thêm điều gì đó thì tiếng lách cách của chìa khóa tra vào ổ vang lên từ ngoài hành lang.

---

Cánh cửa bật mở đập mạnh vào gờ tường. Ông Lượng bước vào, người nồng nặc mùi rượu nếp pha lẫn mùi nước hoa đắt tiền. Tôi nhận ra ông ta: Lưu Đình Lượng, giám đốc Công ty Dịch vụ và Khai thác chợ Ba Cây, cái tên đứng dưới con dấu đỏ trên tờ giấy phân ô dán ở cọc sạp gốc bàng. Ông ta mở cửa bằng chìa của mình, bước vào căn hộ này như bước vào nhà mình. Ông dừng lại hai giây ở ngưỡng cửa, cặp mắt vằn tia máu lướt chậm từ đôi giày thể thao cũ của tôi lên tận mặt.

Không nói không rằng, ông tháo chiếc đồng hồ dây kim loại trên cổ tay, quăng

— chát

một cái xuống mặt kính bàn trà. Mặt kính rạn ra một vết tỏa như mạng nhện.

— Tháng nay thằng H. lên đây mấy lần?

Ông Lượng gầm lên, giọng khan đặc. Chị Ngát giật mình lùi lại, tay quýnh quáng vơ vội mớ tóc xõa ra sau gáy. Chưa kịp để chị trả lời, ông Lượng đã lao tới đập mạnh tay xuống tủ kính. Tiếng gốm sứ vỡ tan tành vang lên chói óc. Bình gốm cắm chùm hoa ly trắng tinh bị ông giật phắt khỏi kệ, ném thẳng vào bức tường vôi. Nước cắm hoa thối bắn tung tóe, những cánh hoa ly dập nát vương vãi dưới sàn.

Tôi đứng khựng lại, cái tên

— thằng H

. vừa thốt ra từ miệng ông Lượng làm lưng tôi lạnh ngắt. Tên ấy, cái chữ cái ấy từng nằm đó trong cuốn sổ ghi chép của mẹ.

— Chú Lượng, dừng tay lại đã chú!

Tôi lao vào giữa hai người khi ông Lượng giơ tay tính hất cả chiếc bàn trà gỗ nặng trịch. Tôi giơ hai tay ra chắn trước ngực ông. Trong lúc hỗn loạn, một cú đấm sượt qua thái dương khiến mắt trái tôi tối sầm lại, cơn đau nhói lên ran rát.

Giữa tiếng loảng xoảng của chiếc bàn trà bị lật úp và màn hình tivi bị giật phăng khỏi mảng tường, cánh tủ dưới cùng của chiếc kệ gỗ bung ra. Mấy tờ giấy lộn xộn văng ra sàn. Chị Ngát không kêu một tiếng, mắt chị chăm chăm nhìn xuống gầm tủ. Nhanh như cắt, chị cúi gập người nhặt lấy một cuốn sổ bìa da giả có kẻ cột tay tỉ mỉ bằng mực xanh, nhét tọt vào nách rồi dùng cánh tay kẹp chặt lấy. Ông Lượng lúc này đang mải đạp vỡ nốt cái đôn gỗ nên không hề hay biết.

Chị Ngát bước nhanh tới, giật mạnh cánh cửa chính rồi đẩy tôi ra ngoài hành lang. Bằng một giọng lạnh băng, ngắn gọn và dồn dập đến lạ kỳ, chị gằn từng câu bốn chữ:

— Cậu về đi thôi. Đừng quay lại nữa. Về ngay đi mà!

— Rầm!

Cánh cửa gỗ dập lại ngay trước mũi tôi. Tôi đứng ngẩn ngơ giữa dãy hành lang vắng ngắt, một tay ôm lấy bên mắt trái đang sưng húp, nhức buốt. Hy vọng xin lại cái sạp chợ Tết cho mẹ coi như tan thành mây khói. Nhưng cái bóng chị Ngát vội giấu cuốn sổ kẻ cột vào nách cứ ám ảnh tôi suốt quãng đường về.

Tôi lê bước về căn phòng trọ chật hẹp ở ngõ Cầu Tre. Ánh đèn tuýp nhấp nháy soi rõ góc bàn gỗ quanh năm bám bụi. Tôi đặt chiếc cặp da lên bàn, không mở ra.

Tôi ngồi xuống chiếc ghế nhựa, tay xoa xoa bên mắt bầm tím. Đoạn ghi âm tiếng mưa rơi kèm giọng nói đứt quãng còn lưu trong điện thoại thằng Tú chợt vang lên trong tâm trí tôi. Muốn bẻ gãy vòng kìm kẹp của anh Hào, chỉ bằng chữ viết của mẹ thôi thì chưa đủ. Cần phải có chữ của một người khác, một người đang nắm giữ bí mật ở cái căn hộ tầng bảy kia.

Hết chương 19
Mục lục

Chương 20 — Hai mươi bảy dòng ngoại giao

Bản nghe

Nghe tiếp thay vì đọc tiếp

Cả 24 chương đều có tập nghe.

@tram.truyen89