Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 7 phút · 1.439 từ
Mùi hành hoa quyện mỡ gầu bốc lên trong màn sương sớm, bám chặt vào tay áo cộc của tôi. Mỗi buổi sáng từ lúc mở vỉa hè đến tầm chín giờ, tôi bán đều tay được một trăm ba mươi đến một trăm bốn mươi bát, mỗi bát bốn mươi nghìn. Toàn bộ hoá đơn có dấu mộc vuông của lò chú Bảy tôi kẹp thành từng tập theo ngày, số bát bán ra ghi cẩn thận vào cuốn vở học sinh kẻ ô ly.
Hôm trước, tôi gom đủ mười triệu rưỡi mang lên tầng ba viện tỉnh đóng tiền giường với tiền thuốc cả tháng Năm cho bố. Lúc ngồi bên mép đệm, tôi lấy khăn ấm lau từng ngón tay gầy guộc của ông, ghé sát tai kể sáng nay bán được chừng nào. Bố mở mắt nhìn tôi trân trân một hồi lâu rồi từ từ khép lại, cổ họng giật nhẹ mà không sao bật ra được tiếng nào. Cảm giác trơ trọi ấy vẫn còn đè nặng ngực tôi cho tới lúc bóng bà Lệ in sẫm trên nền gạch vỉa hè số 9.
Bà Lệ mở cuốn sổ họp tổ dân phố bìa các tông, lật một trang rồi gập lại cái tách. Bà đứng ngay cạnh chỗ tôi kê hàng, mắt quét một lượt từ nồi nước đang sôi sang mấy chồng bát sứ.
— Đơn khiếu nại vừa rồi về vệ sinh thực phẩm người ta trả về vì chị có giấy tờ bên lò mổ
. Bà Lệ cất giọng ráo hoảnh.
— Nhưng cái dãy bàn này vẫn lấn vào phần gạch chỉ dành cho người đi bộ
.
Tôi cầm chiếc muôi cán dài, gõ cộc cộc cộc vào thành nồi cho ráo nước rồi mới ngẩng lên:
— Cháu chỉ mượn mép tường nhà bà Lành thôi cô
.
— Bà Lành cho chị mượn hay cho thuê cũng chỉ bằng cái miệng
. Bà Lệ chỉ đầu ngón tay về phía vạch sơn phân chia vỉa hè.
— Người ta mà làm một cái đơn khác về trật tự đô thị thì chị lấy tờ giấy nào chìa ra cho tổ dân phố?
Tôi không đáp thêm, cúi xuống vốc một nắm bánh phở mềm thả vào vợt chần. Bên chiếc ghế dán chằng chịt băng dính đen, ông Kỳ ngẩng đầu khỏi chén trà đặc, im lặng nhìn sang. Cạnh đó, tay rót nước của bà Lành cũng khựng lại nửa chừng, vòi ấm kề sát miệng chén mà không nghiêng thêm giọt nào. Chỗ đứng mưu sinh này của tôi vững hay lung lay, hoá ra chỉ trông vào một câu nói của người dưng, chẳng có gì bảo lãnh.
Bà Lệ khép sổ, quay gót đi về phía đầu phố, để lại một khoảng trống lành lạnh trên hè gạch. Tôi biết chỗ đứng này chỉ trụ được cho tới khi có lá đơn tiếp theo gửi lên phường, và bà Lệ thì đã nắm rõ số 9 không hề có lấy nửa mảnh giấy lận lưng.
---
Đêm hôm ấy trong căn nhà thuê ngõ Bến Củi, thằng Tí đã nằm cuộn tròn trên manh chiếu mỏng. Tôi dọn gọn nắp thùng xốp, đem toàn bộ giấy má trong túi vải ra trải phẳng.
Đếm đi đếm lại cũng chỉ vỏn vẹn ba thứ có chữ: xấp hoá đơn tím ngắt dấu mộc của lò mổ chú Bảy, tờ biên bản kiểm tra của phường hôm nọ, và cuốn vở học sinh chép chi chít từng con số bát bán mỗi ngày. Tuyệt nhiên không có một bản hợp đồng thuê vỉa hè, không giấy đăng ký kinh doanh, không có bất kỳ dòng chữ nào xác nhận tôi là chủ của cái quán nhỏ này.
Thằng Tí trở mình, vén tấm rèm vải hoa nhìn ra nắp thùng xốp. Nó không hỏi câu nào, lẳng lặng ngồi dậy bưng từng chồng bát đã khô xếp ngay ngắn vào rổ nhựa cho mẹ rồi lại nằm xuống. Nó hiểu tôi đang đỏ mắt tìm kiếm một thứ vốn chưa từng tồn tại ở đây.
Tôi gom ba thứ giấy tờ ấy kẹp lại thành một chồng, bước ra góc sân sau vặn vòi nước rửa chiếc nồi lớn trước giờ nổi lửa. Dòng nước mát chảy ào vào lòng nồi còn váng mỡ.
Tiếng nước chảy làm tôi nhớ tới dáng bố đứng cạnh bể nước xây bằng gạch men xanh ở sân sau căn nhà cũ ngày trước. Lúc ấy bố cũng vừa vặn vòi nước cho chảy tràn qua mép bể, vừa quay lại nói với hai anh em tôi bằng giọng khàn đặc, rằng nhà này về sau có chia chác thế nào cũng được, miễn cái biển hiệu bố gây dựng phải còn treo ngoài phố.
Tôi miết chiếc giẻ ráp qua lại trong lòng nồi thật lâu, lâu hơn mức cần thiết, cho đến khi thành kim loại sạch bong kin kít dưới lòng bàn tay. Tôi không thể cứ ngồi chờ người ta đem đơn tới dẹp quán, sáng mai tôi phải xin bà Lành mấy chữ xác nhận cho thuê chỗ.
---
Trời vừa hửng sáng, tôi đặt bọc tiền bốn triệu đồng trả trước trọn một tháng thuê chỗ lên góc chõng tre của bà Lành.
— Bà viết cho cháu xin mấy chữ, ghi rõ cho cháu thuê sáu mét vuông vỉa hè này bán buổi sáng
.
Bà Lành nhìn bọc tiền rồi nhìn sang tôi, nét mặt đầy vẻ ngần ngại của người già sợ vướng vào chuyện kiện tụng. Bà cầm chén nước chè đã nguội ngắt hắt thẳng xuống rãnh thoát nước, múc nước sạch tráng đi tráng lại hai lần mà vẫn chưa chịu mở lời. Tôi đứng nép một bên chờ đợi, không thúc giục, mắt hướng sang căn nhà số 12 ở đối diện.
Bên đó có ba người phục vụ mới nhận việc trong bộ đồng phục xanh thẫm đang đứng dàn hàng trước cửa. Một chiếc xe ba gác vừa dỡ xuống mấy chồng cốc nhựa dùng một lần cao ngang đầu người. Nhóm thợ sắt buộc một cuộn vải đỏ khổ lớn lên khung thép mới dựng trước mặt tiền, buộc được nửa thì dừng lại căng lại dây.
Tôi vẫn đứng đó, miếng giẻ trong tay vô cớ miết đi miết lại lên mặt bàn gỗ, trong đầu nhẩm tính từng khoản: ba người làm mới ăn lương cứng, gạch lát sàn mới, máy điều hoà chạy ro ro cả ngày lẫn đêm, rồi lại đến khung biển hiệu to tướng kia. Đứng nồi quán cũ suốt mười hai năm, tôi thuộc lòng mỗi buổi sáng bên đó bán được bao nhiêu bát, và hoàn toàn không thể tính ra số tiền lớn như thế ở đâu đổ về. Sau khi trừ các khoản, tiền quỹ tích luỹ của tôi hiện tại còn khoảng bảy mươi sáu triệu.
Bên kia thềm cửa số 12, anh Khải đứng khoanh tay nhìn thẳng sang phía tôi. Anh dồn một cọc tiền lẻ phẳng phiu, đập mạnh cạnh cọc xuống mặt quầy thu tiền phát ra tiếng bôm bốp khô khốc. Chị Loan ngồi thu mình sau quầy thu tiền, hai mắt dán chặt vào mặt bàn, không dám ngẩng lên nhìn sang bên này dù chỉ một lần.
Ông Kỳ chậm rãi nhấp một ngụm trà, hết nhìn cuộn vải đỏ treo lơ lửng trên khung sắt lại quay sang nhìn tôi với ánh mắt ái ngại. Mấy người khách quen đang ngồi ăn phở bên này cũng bắt đầu hạ thấp giọng xì xào, ai cũng nhận ra bên số 12 đang chuẩn bị tung ra một đòn rất lớn.
Bà Lành thở dài một tiếng, rút chiếc bút bi dắt ở nẹp áo, mở cuốn sổ tay cũ. Bà nắn nót viết vài dòng ngắn ngủi xác nhận việc cho tôi thuê lại phần hè trước cửa nhà số 9, ký tên nguệch ngoạc rồi vén vạt áo nâu lau nhẹ mấy ngón tay dính mực.
Tôi đón lấy mảnh giấy viết tay không có dấu chứng thực của phường, cẩn thận gấp lại nhét sâu vào túi áo trong. Bên kia đường, cuộn vải đỏ vẫn nằm im lìm trên khung sắt chờ giờ mở ra. Ra đòn ba lần mà anh Khải chưa hạ được tôi, nên đòn sau sẽ nặng hơn. Tôi không tính ra tiền đâu mà đổ vào số 12 ngần ấy, cũng chưa biết tờ giấy ghi ngày tháng anh giấu trong chiếc cặp da đen dùng để làm gì.