Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 7 phút · 1.356 từ
Hôm ấy, dọn hàng xong tôi về ngõ Bến Củi sớm hơn mọi hôm, đi thẳng, không ghé qua số 12, không gửi lời nhờ vả ai, cũng không đứng lại đầu ngõ thanh minh nửa câu với mấy người phụ nữ đang ngồi nhặt rau muống.
Thằng Tí ngồi trên chiếc ghế nhựa đỏ kê lệch sát mép thềm, lưng quay về phía lối đi, hai bàn chân trần bấm chặt xuống nền xi măng xám xịt. Tôi bước lại, ngồi xuống bậc hè ngay cạnh nó. Đặt đôi bàn tay thô ráp lên hai đầu gối, tôi nhìn nghiêng gương mặt non nớt của con.
Nó không quay đầu lại, giọng ráo hoắc:
— Mẹ có biết người ta đang nói gì ở cổng trường không?
Tôi thở ra một hơi nhẹ:
— Mẹ biết
.
— Người ta bảo con không có bố, bảo mẹ đi theo người ta rồi bị bỏ, có phải thế không?
Tiếng quạt nan của bà hàng xóm phẩy phành phạch bên kia vách nứa vọng sang, nghe khô khốc. Tôi nhớ năm nó lên sáu, nó đứng cạnh nồi nước ở số 12 hỏi bố con đâu. Tôi gõ muôi vào thành nồi ba tiếng rồi mới bảo bố con chết vì tai nạn rồi. Từ hôm ấy nó không hỏi lại lần nào.
Tôi nói chậm rãi, từng tiếng một rơi trên bậc hè:
— Có một người. Lúc ấy mẹ không hỏi tên. Người ấy không chết, câu mẹ bảo con hồi con lên sáu là mẹ nói dối. Mẹ nuôi con một mình mười hai năm nay, mẹ không chết vì chuyện ấy
.
Nó xoay hẳn người lại, mắt trừng lên:
— Thế người ấy là ai? Giờ đang ở đâu?
Đôi bàn tay tôi vẫn giữ chặt trên hai đầu gối, các đốt ngón tay tỳ mạnh vào lớp vải quần thô. Tôi nhìn con thật lâu rồi lắc đầu:
— Từ cuối năm ngoái, ở chợ Cầu Sắt, mẹ đã biết người ấy là ai. Nhưng mẹ chưa nói với con được. Mẹ không nói dối con nữa
.
Nó cắn chặt môi dưới, hai mắt mở to nhìn tôi như muốn tìm một nét gợn trên trán mẹ để xem có lời dối trá nào len vào không. Tôi không chớp mắt, không dịch tay khỏi đầu gối lấy nửa phân.
Thằng Tí hít một hơi sâu qua kẽ răng. Nó đứng phắt dậy, bê chiếc ghế nhựa đỏ kê lại về chỗ cũ, rồi quay lưng đi thẳng ra góc sân sau xả vòi nước. Tiếng bát đĩa va vào nhau lách cách. Nó rửa từng chiếc, tráng qua hai lần nước rồi xếp úp lên giá gỗ, chồng bát cao vút hơn mức an toàn mọi ngày, chông chênh nhưng không hề đổ. Tôi ngồi yên trên bậc thềm nhìn những giọt nước rỏ xuống rãnh thoát, tự hỏi chuyện trong nhà thì đã nói được rồi, còn sáng mai ra phố tôi sẽ đứng thế nào trước mắt người ta.
---
Sáng hôm sau, hơi nóng từ nồi nước dùng bốc lên, mang theo mùi xương bò hầm với gừng nướng. Nắng sớm rọi qua tấm biển số 9, xuống mấy cái bàn nhựa xanh kê sát tường. Tôi đứng vào chỗ của tôi sau quầy, tay cầm cán muôi nhôm đã méo, mắt nhìn lướt qua các bát bánh phở đã xếp sẵn hành hoa và vài lát ớt tươi.
Bên số 12, anh Khải đứng sừng sững giữa gian nhà. Giọng anh ta cố tình nâng cao, át cả tiếng xe máy chạy rầm rập trên đường:
— Cái ngữ không chồng mà có con, đẻ ra thằng bé không biết bố là ai thì sau này nó cũng chỉ đi ăn cắp ăn trộm, lừa lọc người ta chứ làm nên trò trống gì!
Tiếng nói vang rổn rảng, vang qua mặt đường, sang đến tận bàn khách bên tôi. Mấy đứa phụ việc bên tôi khựng lại, rổ rau thơm còn treo lủng lẳng trên tay, mắt dồn cả về phía tôi. Mấy người khách ngồi bàn đầu quay ngoắt lại, ngóng chờ xem tôi có buông muôi bước sang phân bua hay không.
Ngón tay tôi bấu chặt vào cán muôi nóng ran. Máu trong người dồn lên thái dương rần rật, nhưng tôi chỉ cúi xuống, vớt một lớp bọt mỏng trên mặt nước đang sôi lục bục rồi gạt vào âu sắt. Tôi đặt con dao thái thịt xuống mép thớt, quay lưỡi vào phía trong cho khỏi phạm tay ai, rồi gọi người làm bưng đồ cho bàn trong cùng, giọng bình thường như mọi sáng.
Tôi nhìn thấy ông Kỳ đang ngồi ở bàn sát mép vỉa hè số 12. Sáng ấy hàng bên tôi dài tới tận cửa nhà bà Lành, ông vội chạy cuốc xe nên sang bên ấy ăn cho nhanh. Ông và nốt miếng bánh cuối cùng, nhai kỹ rồi đặt đôi đũa ngang miệng bát sứ. Ông không gọi trả tiền, cũng không đưa tiền tận tay cho Khải hay Loan, mà rút hai tờ hai mươi nghìn phẳng phiu đặt ngay ngắn xuống giữa mặt bàn gỗ.
Ông Kỳ đứng dậy, bước từng bước chậm rãi ra khỏi mái hiên số 12. Sau lưng ông, sáu người khách khác ở hai bàn bên cạnh cũng lần lượt buông đũa, đứng lên theo. Bảy chiếc ghế nhựa màu đỏ bỏ trống trơ trọi giữa gian quán đang lúc đông khách nhất buổi sáng.
Khách bên hiên tôi nhìn thấy trọn vẹn cảnh ấy, tiếng xì xào bàn tán bỗng nhiên im bặt.
---
Bảy người họ băng qua mặt đường nhựa, đi thẳng về phía số 9.
Thằng cu mới vào làm bên tôi thấy thế thì mắt sáng rỡ, cầm khay nhôm định bước ra mép vạch vôi đón đường, mồm đã chực gọi to để chèo kéo. Trong hàng khách đang đứng chờ, vài người trẻ tuổi thấy ông Kỳ cũng rục rịch lùi lại, định nhường chỗ cho ông lên trước.
Tôi gõ mạnh chuôi muôi vào thành nồi phát ra một tiếng keng giòn đanh, gọi giật giọng:
— Em quay lại đây chần bánh, việc của em chưa xong đâu đấy!
Tôi nhúng rổ bánh phở vào nước sôi, chần liền tay ba lượt, mắt dán chặt vào làn khói bốc lên mịt mù. Tôi hiểu rõ cái phố này, chỉ cần tôi bước chân qua vạch sơn một bước, người ta sẽ bảo tôi tham lam, bảo tôi đi tranh cướp chén cơm của kẻ khác.
Bảy người khách đi vòng ra sau, xếp vào cuối hàng dài sát vách tường gạch. Ông Kỳ đứng sau cùng, hai tay chắp sau lưng, lặng lẽ nhìn lớp khói tỏa ra từ quầy hàng của tôi. Bà Lành ngồi ở góc hiên, thoăn thoắt rót nước chè xanh vào từng chiếc cốc thủy tinh hoa mai nhỏ mà chẳng buồn hỏi ai uống ai không, cứ rót ra là có người tự với tay cầm lấy.
Bên số 12, chị Loan mặt tái đi, vội ra dọn cả bát của những người vẫn đang ăn. Khải đứng chôn chân bên chiếc bàn thu ngân bằng gỗ ép, hai mắt đỏ ngầu gườm gườm nhìn sang. Anh ta bốc một nắm tiền lẻ trong khay gỗ, vỗ cạnh xuống mặt bàn cho thẳng, đập đi đập lại mấy lần, sau đó lại cúi đầu đếm đi đếm lại từ tờ đầu tiên.
Tôi chần thêm bảy bát bánh, xếp thịt tái lên mặt rồi chan nước sôi ngập bát. Sáng hôm ấy tôi bán hết veo hai trăm mười lăm bát, không thừa một cọng hành. Chuyện trong nhà tôi đã nói trong nhà, còn ngoài phố thì để người ăn tự xử. Đòn đánh giữa phố của Khải đã dội ngược lại quán anh ta, nhưng tôi biết, một kẻ như anh ta một khi đã thua đau trước mắt bàn dân thiên hạ thì sẽ không chịu ngồi yên, và chỗ tôi còn yếu, anh ta thừa biết, là cái sân kho ở chợ Cầu Sắt.