Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 8 phút · 1.670 từ
Bốn giờ sáng một hôm, ở sân kho chợ đầu mối Cầu Sắt, cái kim trên mặt cân đồng hồ nứt kính vừa nhảy qua vạch ba mươi ký thì gối tôi khuỵu xuống.
Tiếng sọt sắt đập xuống nền gạch vỡ toang, kèm theo tiếng xương bò lăn lóc rào rào. Khi tôi mở được mắt ra, hai bên bả vai đã bị hai bàn tay thô ráp của cánh cửu vạn đè chặt xuống mặt thùng xốp úp ngược. Chiếc dây chằng cao su vẫn mắc cứng trong mấy ngón tay tôi. Dưới rãnh bê tông thoát nước thải của chợ Cầu Sắt, bốn mươi ký xương ống văng tung toé, ngập trong thứ nước đen nhờ nhờ lẫn vảy cá và mỡ thối.
— Ngồi yên đấy, đứng lên là ngã tiếp bây giờ
, người cửu vạn trạc tuổi năm mươi giật phắt đoạn dây thun trong tay tôi, quẳng sang bên.
— Em... em nhặt lên kẻo người ta giẫm vào, anh
, tôi thều thào, giấu bàn tay phải quấn băng keo chằng chịt vào sâu trong túi áo khoác.
— Còn nhặt cái gì nữa mà nhặt. Khúc nào dính nước cống thì xúc vứt sang đống rác kia, tiếc rác mang về cho người ta ăn để họ chửi cả họ nhà cô à?
Người thanh niên đi cùng cúi rạp lưng, dùng hai thanh nẹp gỗ gắp những khúc xương còn nằm trên gờ rãnh bỏ vào sọt, khúc nào đã ngập bùn cống thì gạt sang bên. Anh ta bê sọt đặt phịch lên mặt cân nứt, quệt mu bàn tay ướt mồ hôi vào ống quần bò, đọc to số cân lên cho tôi nghe:
— Còn được hai mươi lăm ký thôi. Bốn mươi ký dưới cống là mất toi rồi cô
.
— Gom lại cân thêm cho em... được khúc nào hay khúc ấy, anh
.
— Tôi đã bảo ngồi im!
, người cửu vạn già gắt gỏng, mắt nhìn cái xe máy đuôi xẹp lép đang dựng nghiêng bên mép rãnh.
— Đàn bà con gái đi chợ đêm một mình kiểu này thì có ngày người ta khiêng xác về chứ không phải khiêng xương. Không chết vì xe đè cũng chết vì kiệt sức. Cố đấm ăn xôi làm cái gì?
Tôi gượng nhổm dậy, lại bị sức nặng trên vai ấn thụt trở lại mặt xốp. Mắt đếm từng khúc xương trôi dưới rãnh, trong đầu tôi chỉ nhảy lên từng con số: mất bốn mươi ký xương là mất luôn một buổi bán sáng, hai nồi phở phải tắt bếp sớm, chưa kể tiền khám với thuốc ở trạm xá hôm ấy ngốn của tôi hai triệu sáu trăm nghìn đồng. Tôi ngồi thở dốc trong mùi tanh tưởi của chợ sớm, hiểu rõ sợi dây đàn trong người mình vừa đứt phựt một nấc, và cả cái chợ này đã có người nhìn thấy tôi gục xuống.
---
Đêm hôm sau, tôi vẫn có mặt ở xóm Bãi.
Mùi phân bò và vôi bột nồng nặc trong sân lò mổ chú Bảy xốc thẳng lên mũi. Chú Bảy đang đứng trước bàn pha thịt, tay cầm chiếc móc sắt to bản. Thấy bóng tôi dắt xe vào góc sân, chú dừng tay, móc sắt treo ngược lên xà ngang kêu đánh cạch một tiếng chói tai.
— Ngồi xuống bậc cửa kia
, chú Bảy chỉ ngón tay dính mỡ bò về phía bậc thềm gạch.
— Cháu lấy đủ chuyến hôm nay với phần bù hôm qua rồi về cho kịp nhóm than, chú Bảy
, tôi đứng nguyên cạnh chiếc xe, tay phải đút chặt trong túi áo khoác, tay trái xốc mép thùng xốp lên, vờ như nó nhẹ bẫng.
— Tôi bảo ngồi xuống
.
— Cháu khỏe rồi, không sao đâu chú
.
— Khỏe cái gì mà khỏe?
, chú Bảy trừng mắt.
— Người ta khuân hàng ở Cầu Sắt người ta kể hết với tôi rồi. Mày ngã lăn ra đấy, bốn mươi ký xương đổ mẹ nó xuống cống. Hôm nay mày nằm ra đây thì ai chở đống này về? Mày tính để xương của tôi thối rữa ở xóm Bãi này hả cái Hằng?
— Cháu tự chở được, cháu không để hỏng mối của chú đâu
.
— Mày tưởng cái lò này thừa xương cho mày vứt xuống rãnh nước chắc?
— Cháu trả đủ tiền phần bù, chú cứ tính vào sổ cho cháu
.
Chú Bảy không nói thêm câu nào. Chú quăng con dao pha xuống mặt thớt nghiến kêu chát chúa, tự tay kéo sọt xương ống sáu mươi lăm ký lên bàn cân, rồi tự tay khênh hai thùng xốp đặt ngay ngắn lên giá sắt sau xe tôi, giằng từng vòng dây cao su căng đét. Tiếng chú Bảy thở phì phò nghe rõ hơn cả tiếng dế rỉ rả ngoài bờ rào.
Kéo xong nút thắt cuối cùng, chú Bảy rút tờ hoá đơn trong túi ngực ra, xé rời khỏi cuống, kẹp thêm vào xấp giấy có đóng dấu đỏ rồi dúi vào tay tôi. Mắt chú không nhìn tôi lấy một giây, chỉ ngửa mặt nhìn lên khoảng trời đen kịt trên ngọn cây mít đầu sân:
— Đài báo sắp có bão về đấy. Liệu cái thân mà che chắn, đừng để người ta phải sang hốt xác
.
---
Ba tuần sau, tôi có mặt ở cổng trường cấp hai gần cầu Sắt dự buổi họp phụ huynh đầu năm của lớp 6A. Cánh cổng sắt sơn xanh chỉ mở he hé một bên, cánh còn lại khoá gập bằng đoạn dây xích to bản hoen gỉ.
Tôi vừa dựng xe máy bên gốc bàng thì mấy phụ huynh đứng tụm năm tụm ba trước cổng đã dạt ra một bên. Mùi hành lá bám trên kẽ móng tay tôi dường như vẫn còn thoang thoảng sau mấy tiếng đồng hồ cọ rửa.
— Chị ấy đấy à?
, một người đàn bà mặc áo hoa liếc mắt sang, nói vừa đủ để tiếng lọt qua kẽ răng.
— Thì chị ấy chứ ai. Người ta bảo không chồng mà chửa, đẻ ra thằng bé không biết mặt bố là ai
.
— Gớm, đợt trước nghe chính ông anh ruột bên quán số 12 nói ầm lên ngay ngoài cổng trường này, rồi kể cả với họ hàng nhà nội, tôi tưởng đồn bậy, hóa ra thật
.
— Nhìn cái tướng lầm lũi thế kia thì chả thế. Khổ thân thằng bé con, trong lớp tụi nó gọi thẳng là thằng không bố rồi đấy
.
Tôi siết chặt quai túi xách, ngón tay bấu vào mép da giả cho đến khi đầu ngón tê dại. Tôi không quay đầu lại, bước thẳng qua khoảng trống giữa họ để đi vào dãy nhà hai tầng. Tiếng dép nhựa của tôi gõ trên nền gạch hành lang nghe khô khốc.
Trong phòng học lớp 6A, cô giáo chủ nhiệm phát cho mỗi người một tờ phiếu thông tin học sinh. Cầm cây bút bi, tôi điền họ tên Trần Gia Bảo, ký tên mình vào ô mẹ, rồi bỏ trống hoàn toàn ô họ tên bố, y hệt như cái khoảng trắng vô hồn trên tờ giấy khai sinh của con mười hai năm về trước. Cô giáo nhận lại phiếu, mắt dừng lại ở khoảng trắng đó chừng vài giây rồi nhìn tôi một thoáng, không hỏi câu nào, lặng lẽ gấp tờ giấy xếp vào tập hồ sơ trên bàn.
Trưa ấy về lại hiên số 9 phố Lò Vôi, tôi cầm giẻ lau mặt bàn nhựa xanh. Mặt bàn đã khô cong từ lâu, nhưng tôi vẫn tì cả sức nặng của cánh tay xuống, miết đi miết lại ba lượt liên tiếp cho đến khi mặt nhựa kêu cọt kẹt dưới khớp tay.
Bà Lành ngồi bên chõng tre, có người khách lạ ghé tai hỏi nhỏ bà điều gì đó, bà liền đẩy chiếc ấm tích sang một bên, quay mặt đi chỗ khác. Ông Kỳ ngồi trên ghế số 7, và nốt cọng phở cuối cùng trong bát rồi lấy cuộn băng dính đen quấn lại chân ghế, mặt lầm lì không hé răng.
Bên kia đường, anh Khải đứng chắn trước cửa số 12, chiếc cặp da hạ xuống trước bụng, mở ra rồi lại gập vào đánh tách một cái, mắt hướng thẳng sang hiên quán của tôi.
---
Chiều muộn, tôi ngồi bên bậc hè căn nhà thuê sâu trong ngõ Bến Củi, cặm cụi thái nốt mớ hành hoa cho buổi tối.
Tiếng dép tổ ong lệt xệt ngoài ngõ, thằng Tí về. Nó không chào mẹ như mọi bận. Nó bước qua ngưỡng cửa, đặt chiếc cặp sách vải dù bạc màu xuống góc phản, rồi lẳng lặng xách chiếc ghế nhựa màu đỏ ra tận mép tường đối diện rồi ngồi phịch xuống, lưng quay trọn về phía tôi.
Gót chân đi dép tổ ong của nó cứ đập thình thịch vào mép bậc hè, từng tiếng cộc cộc vang lên trong ngõ vắng.
— Tí, nay ở lớp có chuyện gì thế con?
, tôi hỏi, tay vẫn cầm con dao bài.
Nó không đáp, chỉ cúi gục đầu. Mép cổ áo sơ mi trắng đồng phục bị nó kéo lên, cắn chặt vào giữa hai hàm răng, nước bọt thấm ướt đẫm một vệt dài hình bán nguyệt bên mép vải.
Tôi đặt con dao xuống thớt, cẩn thận úp phần lưỡi sắc vào phía trong lòng mẹt. Quay người sang bên bếp than ủ, tôi nhấc chiếc nắp gang nặng trịch ra ngoài, để mặc cho làn hơi nóng hầm hập phả thẳng vào mặt mình cho rát lên, trước khi quay lại nhìn cái lưng gầy guộc của con đang rung lên từng nhịp bên góc tường. Anh Khải đã thôi đánh vào nồi nước, anh đánh vào con tôi, và đòn này tôi không gỡ được ở ngoài phố.