Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 11 phút · 2.235 từ
Hơi nóng từ thùng hầm bốc lên hầm hập, thấm ẩm cả mép tạp dề, tôi thoăn thoắt dìm vợt bánh phở vào nồi nước sôi, tay kia đón lấy chiếc bát sành vừa tráng nóng. Khách đứng rải dọc mép tường gạch, tiếng gọi thêm hành trần, tiếng xì xụp ăn vội giữa buổi sáng hòa vào tiếng còi xe ngoài mặt đường. Tôi chỉ chăm chú nhìn vào làn nước trong đang lăn tăn sôi và từng lát nạm thái mỏng, cố chần cho kịp dòng người trước khi mực nước trong nồi vơi quá nửa.
Thế nhưng ở đầu hàng, hai cái bóng quen thuộc vẫn chôn chân từ lúc tôi vừa đỏ lửa.
Mỗi bận tôi chan xong một bát, người đứng sau khẽ nhích lên thì người đàn ông trạc bốn mươi mặc chiếc áo bộ đội sờn vai lại kéo người phụ nữ đi cùng lùi về sau nửa bước, nép người nhường cho khách mới. Cứ thế, họ lùi dần cho tới khi chạm lưng vào tận bậu cửa nhà bà Lành. Khách phía sau thấy lạ cứ phải đi vòng qua chỗ hai người đứng dạt ra mới tới được thùng phở, tiếng xì xào bắt đầu râm ran truyền từ đầu hiên sang mép cống.
Bà Lành ngồi trên chiếc chõng tre đặt sát mép tường, khẽ liếc mắt nhìn hai người họ một cái rồi đẩy cái ấm tích bọc trong giành mây sang hẳn mép chõng. Bà nhấc chiếc chén sứ hoa lam, rót nước sôi súc qua một lượt, đổ toẹt ra rãnh nước rồi lại tráng thêm lượt thứ hai. Tiếng nước nóng chạm vào gạch nghe khô khốc.
Chiếc áo bộ đội bạc màu ấy và người phụ nữ có vết sẹo mờ ở đuôi mày kia, tôi chẳng lạ gì. Hôm người ta đem chiếc khoá mới toanh tới thay vào then cửa gỗ lim số 12, chính hai người này đứng nép ở góc sân gạch, cúi gằm mặt nhìn hai mũi dép tổ ong nghe anh Khải gằn từng tiếng bảo em gái sớm muộn cũng là người ngoài. Khi ấy, họ không dám ho he một lời, chỉ lặng lẽ ôm đống giẻ lau lùi vào chái bếp.
Lòng tôi dấy lên nỗi ngờ vực. Người của dãy nhà số chẵn tự dưng đứng lì ở đây cả sáng, hay là sang đây dòm ngó xem tôi nêm nếm những gì vào thùng nước hầm? Tôi lấy chiếc khăn bông ẩm miết mạnh một đường dọc theo mép bàn nhựa xanh đã khô ráo, lực tay tì xuống làm chân bàn rít lên một tiếng chói tai trên nền xi măng. Thu tay lại, tôi không buồn nhìn họ thêm lần nào nữa, vục sâu chiếc muôi cán dài vào đáy nồi, tiếp tục múc từng thìa nước béo óng ánh rưới lên bát nạm gầu.
Thằng Tí hai tay giữ chặt chiếc khay nhôm bưng bốn bát phở nghi ngút khói, đôi chân len qua khe hẹp giữa hai người làm cũ. Nó liếc nhìn chiếc áo sờn của người đàn ông, rồi ngoái đầu nhìn tôi với vẻ mặt đầy thắc mắc.
Mấy người khách quen trong hàng bắt đầu chỉ trỏ sang căn nhà số 12 bên dãy số chẵn. Người đàn ông mặc áo công nhân vừa móc tiền lẻ vừa thì thầm với người bên cạnh:
— Kìa, hai đứa làm bên quán lớn sao lại đứng dạt sang đây thế kia?
Tôi vờ như không nghe thấy, tay vẫn rắc nhúm hành hoa lên mặt bát. Buổi chợ cứ thế trôi đi trong tiếng thìa bát chạm nhau chan chát. Đến khi khách vãn dần, thùng nước hầm chỉ còn trơ lại lớp xương ống nằm sát đáy và mấy vệt mỡ bám quanh thành, hai người họ vẫn đứng nguyên ở mép tường, hai bàn chân dường như chưa từng xê dịch một phân.
Thằng Tí lúi húi thu dọn mấy chiếc thìa nhôm bỏ vào xô nước rửa, bấy giờ người đàn ông mặc áo bộ đội mới nuốt khan một cái rồi bước lên một bước, giọng khàn đặc:
— Cô Hằng... cho chúng tôi xin đứng bưng ở bên này
.
Tôi dừng tay dọn đống ống đũa, nhìn thẳng vào vệt mồ hôi ướt đẫm hai bên nách áo của ông ta. Họ đã đứng đợi suốt cả một buổi bán hàng chỉ để nói ra câu ấy. Nhưng nhận hai người từng cúi đầu im lặng trong ngày tôi bị đuổi đi thì tôi chưa biết có giữ yên được nồi phở của mình không.
---
Tôi vặn khoá bình ga, ngọn lửa tắt cái phụt, trả lại không gian im ắng cho khoảng hiên số 9. Người phụ nữ bước lên đứng cạnh người đàn ông, hai bàn tay cứ xoắn chặt lấy gấu áo bạc màu.
— Quán bên kia dạo này vắng, anh Khải giảm công nhật, lại hay cáu gắt
, người đàn ông tên Thắng khẽ giải thích, mắt dán vào đôi quang gánh xếp gọn gàng ở góc hiên.
— Chúng tôi làm ở số 12 từ ngày mẹ cô còn đứng bếp, việc chặt thịt, nhặt rau, bưng bê không nề hà gì. Cô xem có chỗ cho hai đứa tôi làm công không?
Người phụ nữ tên Mơ ngập ngừng một lúc rồi nhìn vào cái nắp thùng hầm đang đậy kín, buột miệng hỏi:
— Làm ở đây, sau này cô có cho học cách đứng canh nồi nước không?
Ngực tôi thắt lại một cái. Cái tay nghề mẹ truyền lại sau bao nhiêu năm khói lửa cay xè hai mắt, sao có thể dễ dàng để lọt ra ngoài? Tôi chậm rãi đặt con dao phay to xuống thớt gỗ, mũi dao quay vào phía trong, đưa tay ấn chặt cái vung kim loại xuống cho khít mép thùng rồi mới ngẩng lên nhìn thẳng vào mắt chị ta.
Trong đầu tôi tính rất nhanh. Thằng Tí sắp vào năm học mới, một mình tôi vừa chặt thịt, vừa chần bánh, vừa bưng bê thu dọn thì khách chỉ đứng đợi vài bữa là nản lòng mà bỏ đi hết. Có người đỡ chân tay thì giữ được hàng khách, tôi cũng bớt phải cúi lưng đến còng cả đốt sống.
Ông Kỳ ngồi trên chiếc ghế nhựa đỏ số 7 nãy giờ không nói câu nào, chỉ lẳng lặng nghe từng lời đối đáp. Ông với tay lấy cuộn keo dán màu tối trong túi đồ nghề, cúi người quấn thêm mấy vòng thật chặt quanh vết nứt ở chân ghế, miết ngón tay kêu sột soạt.
Bà Lành từ chõng tre bước xuống, tay bưng hai chiếc chén sứ bốc khói nghi ngút đặt trước mặt hai người làm cũ. Anh Thắng vội vàng thò tay vào túi quần định móc tiền trả nước thì bà Lành đã xua xua tay:
— Uống đi cho ấm giọng, khách khứa gì chén nước chè dạo này
.
Tôi nhìn hai chén nước chè xanh sóng sánh rồi dứt khoát lên tiếng:
— Tôi nhận cả hai người
.
Chị Mơ tròn mắt nhìn tôi:
— Thật hả cô?
— Thật
, tôi đáp, rành rọt từng chữ.
— Nhưng chuyện nào ra chuyện đó. Bưng bát, tráng bánh, rửa đũa, lau bàn thì học ba ngày là quen việc. Còn cái vị nước phở này, phải đứng phụ bên nồi một năm trời xem lửa, ngửi mùi xương mới ngộ ra được cái chuẩn. Cho nên nội trong một năm tới, một mình tôi mở vung, một mình tôi đứng nồi chính. Hai người không được chạm tay vào miệng nồi. Đồng ý thì mai bắt đầu
.
Anh Thắng nhìn chị Mơ một cái rồi gật đầu lia lịa:
— Chúng tôi hiểu rồi. Việc của cô, cô giữ, chúng tôi chỉ xin chân làm công kiếm hạt cơm
.
— Tôi trả lương tính theo tuần, hết tuần nhận tiền một lần
, tôi mở chiếc túi vải con đeo bên hông, đếm mấy tờ tiền phẳng phiu đưa sang cho anh Thắng.
— Tôi ứng trước cho mỗi người nửa tuần đầu để lo tiền ăn uống. Chiều nay tôi ra phố mua thêm hai bộ tạp dề với chục bát đĩa loại nhỡ, cộng cả tiền ứng lương tính sơ sơ hết một triệu chín. Việc chia rõ ràng thế này: bốn giờ sáng tôi về từ lò mổ xóm Bãi, năm rưỡi tôi mở hàng. Hai người đúng năm giờ có mặt lo bàn ghế và bưng bát. Thằng Tí chỉ phụ bưng cho khách ngoài mép hiên một lát rồi phải về chuẩn bị đi học hè
.
Bà Lành bưng ấm trà rót thêm vào chén của tôi một ngụm nhỏ, gật đầu:
— Con bé nó tính thế là đâu ra đấy. Cứ minh bạch từ đầu cho dễ sống
.
Ông Kỳ dựng thẳng chiếc ghế vừa quấn keo xong, vỗ mấy cái lên mặt ghế nghe lộp bộp:
— Cứ gánh việc cho ngay ngắn là có đồng tiền
.
Hai người họ uống cạn chén nước chè rồi chào tôi ra về. Tôi nhìn theo hai cái bóng gầy gò đi khuất sau ngã ba, lòng chợt dấy lên mối lo: sáng mai, khi phải đứng đối mặt anh Khải, chưa chắc họ đã dám bưng bát phở của tôi đi ngang qua cửa số 12.
---
Sương sớm còn đọng mờ trên mép ngói âm dương, góc phố Lò Vôi đã thơm lừng mùi thảo quả nướng và mỡ bò ngậy béo. Tôi đứng thẳng lưng bên cạnh thùng nước hầm, nhịp tay không rời vợt bánh phở, rưới muôi nước béo rồi đặt chiếc bát nóng hổi lên khay.
Hai bộ tạp dề vải thô màu xanh đậm mới tinh nổi bần bật giữa khoảng hiên chật hẹp. Anh Thắng lau vội từng mặt bàn, còn chị Mơ bưng khay nhôm đi như chạy giữa hai dãy ghế nhựa. Việc chạy trơn tru đến mức tôi không phải nhấc chân rời khỏi vị trí đứng chần bánh lấy nửa bước.
Bên dãy nhà số chẵn, cánh cửa gỗ lim của tiệm số 12 bật mở toang hoác. Anh Khải bước ra, hai tay chống nạnh đứng sừng sững ngay trước bậc thềm đá. Ánh mắt anh ta quắc lên, nhìn chằm chằm sang hai người mặc tạp dề mới đang bưng bê bên hiên nhà bà Lành.
Chị Mơ vừa bưng khay phở đi ngang mép vỉa hè thì bắt gặp ánh nhìn của chủ cũ. Chị khựng người lại, bước chân lảo đảo làm chiếc khay nhôm nghiêng đi một góc, nước phở nóng sánh tràn qua mép bát rớt xuống thành khay. Khách ngồi chờ bắt đầu quay đầu lại ngó nghiêng.
Tôi không để khoảng lặng ấy kéo dài. Cầm chiếc muôi nhôm gõ mạnh vào thành nồi một tiếng thật đanh, tôi cất giọng sang sảng:
— Bát chín nạm nhiều hành của bàn số bốn xong rồi này chị Mơ ơi!
Tiếng gõ muôi đanh gọn kéo chị Mơ giật mình quay lại. Tôi chìa sẵn chiếc bát nóng hổi trên tay, đưa thẳng ra trước mặt chị, ánh mắt giữ trọn sự điềm tĩnh. Chị Mơ nhìn tôi, hít một hơi thật sâu rồi vội vàng bước lại đón lấy bát phở, tay đã vững hơn, không còn run rẩy nữa.
Người đi chợ sớm và khách ăn phở đưa mắt nhìn hai chiếc tạp dề mới rồi lại ngoái nhìn sang tiệm số 12 vắng tanh. Ai nấy đều hiểu chuyện: người làm bao năm bên quán lớn nay đã dứt áo sang vỉa hè này ăn lương công nhật. Anh Khải đứng trơ trọi bên bậc thềm đá suốt cả buổi sáng, mặt xám xịt như tro tàn, nhìn dòng người cứ nườm nượp kéo về góc hiên số 9.
Hôm ấy, đồng hồ trên cột điện chưa điểm chín giờ mà thùng nước hầm của tôi đã cạn sạch, chỉ còn mấy khúc xương đã rã hết thịt lăn lóc dưới đáy. Đếm lại số bát đĩa xếp trong các xô tráng, tổng cộng sáng nay tôi bán được hai trăm linh lăm bát, dọn hàng sớm hơn thường lệ tận nửa tiếng đồng hồ. Trong khi đó, nhìn sang dãy nhà số chẵn, quán của anh Khải lác đác vài ba người khách muộn, nhẩm tính cả buổi bán chưa nổi tám mươi bát.
Lần đầu tiên kể từ ngày dọn ra vỉa hè, tôi kéo chiếc ghế nhựa ngồi thụp xuống hiên nhà, thả lỏng đôi vai buốt nhức trong mười phút trọn vẹn mà không phải cuống cuồng chạy đi dọn bàn hay múc nước rửa bát. Nhìn anh Thắng và chị Mơ đang cặm cụi thu dọn từng đôi đũa tre, tôi biết mình đã đi đúng một bước: cái nghề này chia được phần chân tay bưng bê, nhưng nồi nước thì trong một năm tới vẫn chỉ nằm trong tay mình.
Thế nhưng khi nhìn sang đống bàn ghế đang kê kín khoảng sân nhỏ, tôi chợt thấy lòng chùng xuống. Tôi đã có người làm, có mối xương ngon, có khách quen xếp hàng mỗi sáng, nhưng toàn bộ cơ nghiệp này hiện thời vẫn chỉ bấu víu vào mấy dòng chữ viết tay cho thuê hiên của bà Lành.