Nồi Nước Phở Anh Em
Đăng nhập
Chương 5 / 24

Xương còn ấm lúc hai giờ sáng

Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 9 phút · 1.857 từ

Nồi Nước Phở Anh Em — chương 5 — Xương còn ấm lúc hai giờ sáng

Tiếng dao chặt xương chan chát dội vào vách tôn của kho Hưng Phát, cái kho bán buôn thịt bò trong chợ đầu mối Cầu Sắt, nơi mấy năm nay tôi vẫn lấy xương cho nồi nước. Tôi vừa chỉ tay vào đống xương ống trên bàn inox, người coi bàn đã gạt phắt tay tôi ra.

— Hôm nay không có phần cô

.

Tôi nhìn bàn inox đầy ắp dưới bóng đèn vàng, chỉ sang góc bên phải:

— Hôm qua tôi dặn bốn mươi ký mà?

— Không có là không có

.

Anh ta rút trong túi áo ngực ra một tờ giấy gấp tư, dùng ngón tay cái thô ráp đè chặt phần trên và phần dưới, chỉ chừa hở một dòng chữ in kim lem mực đưa sát mặt tôi: Không bán xương ống bò cho cơ sở phở nào khác trên phố Lò Vôi. Mép giấy bật lên dưới ngón tay anh ta, tôi chỉ kịp thấy dòng bên mua ghi quán Phở Thịnh, số 12 phố Lò Vôi, nằm sát con dấu đỏ, anh ta đã thu tay lại, nhét giấy vào túi rồi quay lưng xếp xương cho mối khác:

— Việc của chủ. Muốn thắc mắc thì đi tìm chủ mà nói

.

Mấy người cửu vạn dừng tay kéo xe thùng xốp, nhìn tôi rồi nhìn nhau xì xào. Tôi đứng trơ trọi cạnh cái cân đồng hồ năm mươi ký có mặt kính nứt làm đôi. Bàn tay tôi vô thức đặt lên vết nứt nham nhở ấy.

Mười chín tuổi, lần đầu tiên mẹ Bích để tôi cầm tiền đi chợ đầu mối lấy xương một mình. Mẹ đứng ở cửa bếp, nhét mớ tiền lẻ vào túi áo tôi rồi dặn, ra chợ thì cân nào cũng phải tự nhìn kim, người ta đưa hoá đơn nào cũng phải giữ lấy cuống, lơ đễnh một giây là họ tráo xương cũ vào ngay.

Tôi rút tay khỏi mặt kính nứt, quay ngoắt sang dãy bán đồ gia dụng góc chợ, mua ngay một cái cân đồng hồ loại sáu mươi ký rồi buộc chặt sau xe. Tôi chạy vòng qua ba sạp thịt lẻ khi chợ bắt đầu vãn người, vét được hai mươi ký xương ống còn sót lại. Xương đã nằm phơi ngoài sạp qua cả buổi trưa, tủy ngả màu sẫm, giá bị hét ba mươi lăm nghìn một ký, có sạp còn đòi ba mươi bảy nghìn mới chịu bán. Tôi bấm bụng trả tiền, gom từng mẩu giấy biên nhận nhét chặt vào túi quần.

Tôi siết dây buộc hai thùng xốp xương qua trưa lên yên xe.

---

Bốn giờ sáng, tôi mở vung nồi nước dùng ở góc vỉa hè số 9, húp thử một thìa nhỏ. Vị ngọt lợ, thiếu hẳn cái béo ngậy và độ sâu của tủy tươi. Tôi biết nồi nước hôm nay chỉ đạt chừng tám phần, nhưng bếp than đã đỏ, không còn cách nào khác.

Khách bắt đầu vào. Tôi gõ muôi vào thành nồi ba tiếng cộc cộc, múc thêm nửa vá nước béo cho từng bát để bù vào độ nhạt. Bàn bên kia, hai người khách lạ húp được vài thìa rồi để nguyên bát, đứng dậy móc ví trả tiền.

Ông Kỳ đến lúc bảy giờ, ngồi vào cái bàn nhựa quen thuộc ở góc trong. Tôi bưng bát phở tái chín nhiều hành ra, tim đập thình thịch trong lồng ngực. Ông Kỳ cầm thìa húp một ngụm, ngưng lại một lúc rồi lẳng lặng ăn hết cả bát. Ăn xong, ông đặt thìa xuống mặt bàn nghe cộp một tiếng khô khốc.

Ông Kỳ cúi người, rút từ túi áo khoác ra một cuộn băng dính đen, cẩn thận quấn mấy vòng quanh cái chân ghế nhựa bị nứt cho thật chặt, miết phẳng mép dán rồi mới đứng dậy rút tiền đưa tôi. Bốn người khách ngồi bàn bên cạnh nhìn theo cái lưng còng của ông, rồi lại cúi xuống nhìn bát phở của mình. Cái im lặng của ông đè nặng lên vai tôi hơn cả một lời mắng té tát.

Đến chín giờ sáng, nồi nước cạn đáy nhưng tôi đếm chỉ được tám mươi sáu bát, hụt hẳn một khúc so với mọi hôm. Dọn hàng xong, tôi sang quán nước chè bên cạnh, ngồi phịch xuống chiếc ghế gỗ đối diện bà Lành.

Bà Lành rót bát chè xanh đặc quánh, đẩy sang trước mặt tôi:

— Xương hôm nay có vấn đề à?

— Bên kho Hưng Phát họ cắt mối của cháu rồi

. Tôi thở dài, hai bàn tay ôm lấy bát chè nóng.

— Cháu phải mua vét ở sạp lẻ, xương qua trưa nên nước không tới

.

— Để bà chỉ cho một chỗ

. Bà Lành ghé sát tai tôi, hạ giọng.

— Dưới xóm Bãi có cái lò mổ tư nhân của ông Bảy. Lò ấy làm từ nửa đêm, xương thịt tươi rói, cách đây tầm mười một cây số. Nhưng ông Bảy tính khí quái gở lắm, mà đường đê đêm hôm lại vắng, con thân gái đi một mình phải cẩn thận

.

Tôi ghi tên xóm Bãi vào mẩu giấy biên nhận nhét trong túi quần.

---

Mười hai giờ đêm, tôi dắt chiếc xe máy cũ ra khỏi căn nhà trọ ở ngõ Bến Củi. Tiếng xích xe lách cách làm thằng Tí trở mình.

— Mẹ đi đâu đấy?

Thằng bé dụi mắt, giọng ngái ngủ.

— Ngủ tiếp đi con, mẹ đi lấy xương cho nồi sáng mai

. Tôi quay lại, kéo mép chăn đắp ngang ngực cho con rồi cài then cửa từ ngoài.

Tôi phóng xe mười một cây số dọc theo triền đê hun hút gió, bụi cát táp rát cả mặt. Lò mổ xóm Bãi hiện ra sau rặng chuối rậm rạp. Dưới mái tôn rộng thênh thang, mấy bóng đèn tròn công suất lớn thả dây lủng lẳng soi rõ những hàng móc sắt dài dằng dặc. Nền xi măng lênh láng nước, loang những vệt tiết đỏ sậm. Ngoài cửa, một hàng dép nhựa tổ ong xếp ngay ngắn.

Tôi dựng xe, hai cái thùng xốp sau yên còn trống trơn. Một người đàn ông luống tuổi, mặc quần cộc và chiếc tạp dề da bò bước ra, tay cầm con dao bầu to bản.

— Chú là chú Bảy ạ?

Tôi bước tới, cất tiếng.

— Cháu mở quán phở trên phố Lò Vôi, muốn lấy xương ống mỗi đêm

.

Chú Bảy nheo mắt nhìn chiếc xe máy rồi nhìn tôi, mũi dép hất mạnh một vũng nước trên nền xi măng:

— Ở đây tôi giao buôn cho các chợ, không bán cho người lấy lắt nhắt vài ký

.

— Cháu lấy nhiều, lấy đều mỗi ngày chú ơi

.

Chú Bảy chống mũi dao xuống mặt thớt gỗ lim, nhìn thẳng vào mắt tôi:

— Hai giờ sáng mỗi ngày phải có mặt. Mỗi lần lấy ít nhất bốn mươi ký, giá ba mươi nghìn một ký. Bỏ một hôm là tôi cắt mối, khỏi quay lại

.

Tôi nhẩm nhanh trong đầu: bốn mươi ký nhân ba mươi ngày là ba mươi sáu triệu tiền xương một tháng, và mỗi đêm tôi chỉ còn chợp mắt được chưa đầy hai tiếng. Nhưng mất mối nước này thì quán cũng dẹp tiệm. Tôi gật đầu dứt khoát:

— Cháu nhận

.

Chú Bảy quay vào trong, thoăn thoắt lựa những khúc xương ống bò to, nây tủy, chặt gọn rồi trút vào bao tải đặt lên cân đồng hồ lớn. Kim cân chỉ tròn bốn mươi ký. Ông xé một tờ hoá đơn bán lẻ có đóng con dấu vuông màu tím đưa cho tôi, mắt ngước nhìn lên mái tôn:

— Trời này oi nồng, khéo lát nữa mưa to đấy. Buộc cho chặt vào

.

Tôi cúi xuống đỡ lấy bao xương. Hơi ấm từ những khúc xương vừa pha còn hầm hập, thấm qua lớp bao tải vào lòng tay tôi. Lúc tôi nổ máy quay xe, chú Bảy đang đứng bên hiên, cúi đầu đếm lại hàng dép nhựa ngoài cửa.

Tôi siết lại dây buộc, đặt bàn tay còn ấm lên thành thùng xốp.

---

Tôi cho xương vào thùng đá, mười giờ đêm hôm ấy mới bắc nồi, ninh đủ sáu tiếng đến bốn giờ sáng. Sáng ra, thùng nước dùng sôi lăn tăn từ lúc năm giờ, tỏa ra mùi thơm ngọt đậm đà của tủy tươi quện với hành nướng và quế hồi.

Ông Kỳ lại đến vào giờ cũ, chiếc áo khoác bạc màu kéo khóa kín cổ. Ông ngồi vào chỗ chân ghế đã được quấn băng dính đen hôm qua. Bốn người khách ở bàn dài quay sang nhìn ông, tay cầm đũa chần chừ như chờ đợi điều gì đó. Tôi bưng bát phở bốc khói nghi ngút ra đặt trước mặt ông, rồi quay lại tủ kính, cầm giẻ lau đi lau lại mặt kính vốn đã sáng bóng.

Ông Kỳ múc thìa nước dùng đầu tiên, thổi nhẹ rồi đưa vào miệng. Ông nhắm mắt lại chừng nửa giây, nuốt xuống, rồi cầm đũa gắp một miếng bánh phở lẫn thịt bò. Cả góc quán im phăng phắc, chỉ có tiếng xì xụp ăn uống của ông. Ông ăn hết miếng thịt cuối cùng, nâng bát húp cạn đến giọt nước đáy rồi đặt bát xuống mặt bàn nhựa đánh cạch một tiếng:

— Nước ngọt hơn hồi ở quán

.

Bốn người khách bàn bên thở phào, người này gọi thêm thịt, người kia gọi thêm bánh. Tôi vội quay mặt vào trong nồi nước dùng, mở tung nắp vung để luồng hơi nóng phả thẳng vào mặt, che đi khóe mắt đang cay sè. Chiều hôm sau, hai người trong số bốn người khách ấy quay lại, dẫn theo ba người bạn làm cùng xưởng mộc đến ăn.

Khách cũ cứ thế rủ nhau quay về. Mỗi đêm tôi đều đặn chạy xe mười một cây số xuống xóm Bãi lấy bốn mươi ký xương còn nóng hổi của chú Bảy với giá ba mươi nghìn một ký.

Đến buổi bán cuối tháng, sau khi trừ hết tiền thịt, tiền bánh phở và tiền xương, tôi ngồi dưới bóng đèn tròn treo đầu giường, đếm mớ tiền lẻ vuốt thẳng thớm, kẹp xấp hoá đơn có dấu tím của chú Bảy vào cuốn sổ bán hàng. Tiền dành dụm trong túi vải đã gom được bảy mươi tám triệu rưỡi.

Hơn ba giờ sáng, tôi chở hai thùng xương về đến đầu ngõ Bến Củi. Đèn đường vàng vọt rọi xuống một bóng người mặc áo mưa trùm kín đầu đang đứng cạnh bờ tường, tay giơ chiếc điện thoại hướng thẳng về phía chồng thùng xốp đựng xương tôi xếp ở lối đi chung. Vừa thấy ánh đèn xe tôi rọi tới, người đó liền hạ điện thoại xuống, quay lưng rảo bước ra phía đường lớn.

Người đứng đầu ngõ chĩa máy vào chồng thùng xốp đựng xương để làm gì?

Hết chương 5
Mục lục

Chương 6 — Bốn mươi ký xương trên bàn inox

Bản nghe

Nghe tiếp thay vì đọc tiếp

Cả 24 chương đều có tập nghe.

@tram.truyen89