Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 11 phút · 2.204 từ
Đêm hôm ấy, mùi mỡ bò gây nồng quyện với mùi nước vôi xịt nền xộc thẳng vào mũi ngay khi tôi vừa dắt xe qua cổng sắt xóm Bãi. Chú Bảy đứng cạnh bàn pha, chiếc tạp dề cao su cáu bẩn buông dài chạm tới ủng. Đống xương ống chất cao bên chiếc cân đồng hồ, kim còn vắt quá vạch, móc sắt còn lòng thòng trên giá.
— Sáu mươi lăm ký của cháu đâu chú Bảy?
Tôi dựng chân chống xe máy, giấu lòng bàn tay phải còn quấn một vòng băng keo vào sâu trong túi áo khoác. Khoản chi chín triệu đồng cho cái nồi năm mươi lít, một chiếc xe đẩy phụ gắn thêm hai hộc than và mấy chồng bát mới mua hồi chiều làm bụng dạ tôi cứ thắt lại từng cơn.
Chú Bảy không vội trả lời, mũi dép nhựa hất một vũng nước rửa lòng đỏ lòm chảy tràn dưới chân bàn cân. Chú ngước lên, mắt đục ngầu nhìn tôi:
— Cái Hằng, tôi tính cho cô đủ sáu mươi lăm ký, nhưng chuyện làm ăn ở cái lò này không có kiểu nay lấy mai nghỉ. Đêm nào cũng hai giờ có mặt, lấy đủ chừng đó. Bỏ một buổi là tôi gạt tên, nhường chân cho mối bên chợ Cầu Sắt. Cô kham nổi không?
— Cháu lấy đều mỗi đêm, chú xé hoá đơn cho cháu
.
— Nói thì dễ lắm
. Chú Bảy với tay kéo cái móc sắt kêu ken két trên thanh xà ngang, treo lại ngay ngắn vào hàng rồi mới dằn từng tiếng.
— Lúc khoẻ thì hùng hổ, tới bữa trái gió trở trời, ốm lăn ra đó thì ai chạy xe mười một cây số xuống đây chở thay cô? Thằng nhỏ ở nhà hay mấy đứa làm thuê?
— Cháu tự đi
. Tôi siết chặt bàn tay trong túi áo, ngón tay ấn vào mép băng keo ráp ráp.
— Cháu không bỏ bữa nào đâu, chú Bảy cứ cân
.
Chú Bảy nhìn tôi chừng vài giây, không cằn nhằn thêm câu nào nữa. Chú với cái kẹp sắt, gắp từng khúc xương ống to bản quẳng lên bàn cân kêu uỳnh uỳnh, kim đồng hồ rung bần bật rồi dừng ở vạch sáu mươi lăm. Tờ hoá đơn có con dấu đỏ lem nhem được chú xé xoẹt một cái đưa sang, mắt chú nhìn ra ngoài cổng xóm Bãi:
— Gió đổi hướng rồi đấy, lát về khéo dính mưa
.
Tôi nhận tờ giấy kẹp vào xấp biên nhận cũ trong túi ngực, lẳng lặng bưng từng tảng xương bỏ vào hai thùng xốp chằng sau yên. Người đàn ông khuân lòng lợn ở cửa lò đứng tựa lưng vào cột bê tông, mắt dán vào hai thùng hàng nặng trĩu làm đuôi xe tôi xẹp lép xuống sát lốp, miệng tặc lưỡi một tiếng rõ to giữa đêm vắng.
Hai nồi than đỏ rực cùng lúc thì sáng mai ai đứng múc, ai bưng bát? Câu hỏi ấy đè nặng lên từng vòng bánh xe trên đường về.
---
Hơi nước bốc lên từ hai miệng nồi nghi ngút phả vào mái hiên số 9, làm mờ cả vạch sơn trắng phân ranh giới ngoài hè phố. Bốn người làm đứng chen chúc quanh khoảng sân hẹp, người đón bát bẩn, người chần rau, người vớt thịt, tay không lúc nào ngơi.
Cậu làm mới thấy khách réo giục dồn dập, bèn với tay nhấc phăng vung cái nồi năm mươi lít vừa kê thêm sáng nay, cầm chiếc muôi cán dài định sục thẳng vào giữa đáy nồi múc nước.
Tôi đặt con dao thái thịt xuống thớt, xoay sống dao ra ngoài, bước tới giữ lấy cán muôi:
— Để chị
.
Cậu thanh niên giật thót, mặt đỏ ửng lên, vội buông tay lùi lại nửa bước:
— Em thấy khách giục đông quá, định múc đỡ chị một tay
.
Tôi không gắt, chỉ cúi người xuống nhìn mép chân chiếc bàn phụ mới kê cứ cập kênh theo từng nhịp băm thịt. Tôi rút từ cuốn sổ bìa xanh trong ngăn kéo xe ra tờ giấy khen giải ba hội thi nấu ăn năm 2012, gấp làm bốn, mép đã sờn rách, nhét chặt vào dưới chân bàn sắt cho nó đứng vững. Đoạn, tôi cầm muôi gõ cộc một tiếng dứt khoát vào thành nồi, nhìn quanh cả bốn người làm:
— Vị nước này phải đứng bên bếp than ròng rã một năm mới canh được ngọn lửa với độ ngọt của xương. Nồi nước chính để một mình tôi đứng. Các em với anh chị chỉ chần bánh phở, thái hành và bưng bê ra bàn. Đừng ai tự ý chêm nước hay múc thay, sai một muôi là đổ cả nồi
.
Chị Mơ đang thoăn thoắt chia thịt bò tái vào từng bát tô liền cúi thấp xuống chồng bát sứ, gắp thịt thật nhanh như để tránh chạm ánh mắt tôi. Cậu làm mới lí nhí vâng một tiếng, quay sang đỡ lấy rổ hành hoa vừa xắt.
Ở chiếc ghế số 7 ngoài mép hiên, ông Kỳ vừa húp cạn thìa nước cuối cùng trong bát, đặt đôi đũa ngang miệng chiếc tô sứ không còn một cọng hành. Ông đứng dậy, rút cuộn băng dính đen trong túi áo ra quấn lại chỗ chân ghế nhựa bị nứt cho đỡ kêu, nói bâng quơ:
— Nước hôm nay vẫn đậm, không bị loãng bớt như mấy hàng người ta hay cơi nới
.
Bà Lành ngồi bên chõng tre phe phẩy chiếc quạt nan, lặng lẽ rót bốn chén chè xanh nóng hổi đặt ngay ngắn ở mép chõng đợi tốp người làm ngơi tay. Tôi nhìn xấp tiền lẻ nhét đầy trong chiếc túi đeo hông, sáng nay bán trọn hai lượt được hai trăm sáu mươi bát, giá mỗi bát bốn chục nghìn vẫn giữ nguyên. Nhưng bốn người làm đứng quanh tôi lúc này ăn lương tuần, hết tuần là khoản phải trả nặng nhất.
Bán xong hai lượt, lúc dọn xong đống rác cuối cùng thì nắng đã đứng bóng trên ngọn cây bằng lăng đầu phố. Tôi về tới con ngõ Bến Củi trễ hơn mọi ngày, lòng cứ thắt lại khi nghĩ đến cảnh thằng Tí phải thui thủi một mình trong căn phòng trọ tối om.
---
Một tuần sau, sau bảy buổi bán hai lượt, gió đêm lùa qua khe cửa gỗ kêu lạch cạch. Trong căn nhà trọ chật chội ở ngõ Bến Củi, thằng Tí nằm co quắp trên nắp hai chiếc thùng xốp ghép lại làm phản, cuốn vở bài tập toán của năm học cũ mở toang úp lên ngực, mấy dòng phép tính cộng trừ phân số vẫn còn bỏ dở nửa chừng.
Tôi ngồi thụp xuống bên góc nhà, trải chiếc túi bóng màu xám đục ra nền xi măng. Từng chiếc áo đồng phục bạc màu, hai cái quần cộc và chiếc khăn quàng đỏ của con, tôi gấp lại, vuốt kỹ từng nếp rồi nhét gọn xuống đáy túi.
Tôi tính sáng mai sẽ đem thằng bé gửi về nhà dì Tư ở xã Đồng Sậy. Dì Tư có mảnh vườn nhỏ, có chuồng gà, gửi thằng Tí về đấy ít ra cũng có người nấu cho nó bát cơm nóng buổi trưa, đỡ cho tôi cái nỗi đêm nào cũng lo nó ở nhà một mình chập điện hay trượt chân ngã.
Ngón tay tôi vừa túm lấy hai quai túi bóng, chuẩn bị rút chặt nút buộc thì cả người tôi bỗng khựng lại.
Đúng cái quai túi ấy, đúng thứ nilông mỏng ráp ấy. Mười hai năm trước, hai ngón tay tôi cũng miết đúng nếp gấp này.
Tôi buông tay khỏi miệng túi, đứng dậy bước chầm chậm về phía góc bếp. Tôi nhấc nhẹ chiếc vung nhôm đậy trên miệng nồi than nhỏ đang ủ tro, ghé sát mặt mình vào làn hơi mỏng manh vừa bốc lên. Hơi nước ấm áp phả vào hai gò má lạnh buốt, làm sống mũi cay xè. Tôi đứng như thế một lúc lâu cho mắt ráo bớt, rồi mới quay trở lại mép phản nhìn chiếc túi bóng nằm trơ trọi cạnh chân con.
Lần trước, khi tôi thắt chặt miệng một chiếc túi như thế này, tôi đã bước chân ra khỏi ngưỡng cửa mà không quay đầu lại.
---
Đó là một đêm tháng Mười Hai rét căm căm của năm 2012, trong căn nhà số 12 phố Lò Vôi.
Bác sĩ trạm y tế vừa bảo cái thai trong bụng tôi đã được mười một tuần. Trong gian buồng phía trong, mẹ Bích vừa ở viện tỉnh về sau đợt chỗ mổ cũ đau lại, nằm thiếp đi trên giường, hơi thở mệt nhọc hắt ra từng cơn theo nhịp quạt trần quay kẽo kẹt. Dưới tầng một, bố Thịnh một mình lo quán, sáng nào cũng bốn rưỡi mới dậy mở cửa.
Anh Khải mới cưới vợ được ba tháng. Trong bữa cơm chiều hôm ấy, anh buông đôi đũa xuống mâm cơm nghe đánh cạch, nhìn xoáy vào mặt tôi rồi nói gằn từng tiếng trước mặt cả nhà:
— Cái nhà này ba đời buôn bán giữ chữ sạch sẽ, không chịu nổi một cái tai tiếng chửa hoang đâu. Cô liệu mà tính đường
.
Không ai nói thêm một lời nào. Bố cắm cúi và bát cơm nguội, mẹ quay mặt vào vách tường gian trong giả vờ ngủ. Tôi hiểu mình không còn chỗ nào để mở miệng thanh minh.
Đêm đó, tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu, xé một mảnh giấy từ cuốn sổ tay, nắn nót viết bốn dòng ngắn ngủi để lại trên mặt bàn inox mát lạnh. Tôi nhét sáu triệu đồng dành dụm bấy lâu từ những ngày phụ quán vào túi áo lót phía trong. Tôi nhét vội mấy bộ quần áo cũ vào chiếc túi bóng màu xám, buộc miệng túi hai vòng thật chặt.
Bốn giờ kém mười phút sáng, tôi nhẹ nhàng đẩy then cài cánh cửa gỗ, lách mình bước ra con ngõ tối om khi sương muối còn giăng đầy mái ngói.
Tôi bắt chuyến xe khách đầu tiên lúc trời vừa hửng sáng để về xã Đồng Sậy. Bốn dòng để lại trên mặt bàn inox chỉ báo với nhà rằng tôi đi học nghề nấu ăn ở mạn trên tỉnh. Dì Tư mở cánh cổng tre nhìn thấy tôi, mắt dì dừng lại ở chiếc túi bóng xách trên tay rồi chuyển xuống nhìn cái áo len dày tôi khép chặt trước bụng. Dì không gặng hỏi lấy một câu, chỉ lẳng lặng quay lưng bước ra vườn, rải nắm thóc cho đàn gà đang lục tục tìm ăn.
Tháng Sáu năm sau, tôi cắn răng sinh thằng Tí trên chiếc giường sắt kêu cót két ở bệnh viện huyện. Trên tờ giấy khai sinh của con, phần ghi tên người bố để trống.
Đến tháng Mười năm ấy, tôi ẵm thằng bé mới bốn tháng, bọc trong chiếc khăn xô, trở về thành phố Nam Thái. Ai hỏi, tôi chỉ nhìn xuống đất rồi bảo rằng người ta đã chết vì tai nạn từ lúc chưa kịp cưới xin, rồi lẳng lặng nhận chân đứng bên nồi nước sôi sùng sục. Thằng Tí lớn lên từng ngày theo từng mẻ xương hầm, tuổi của nó cũng chính là tuổi cái nghề đứng bếp của tôi.
Tiếng thằng Tí khẽ trở mình trên chiếc thùng xốp làm tôi giật mình thoát khỏi dòng ký ức cũ. Thằng bé quờ tay tìm chiếc gối, miệng lẩm bẩm mấy câu mơ ngủ rồi lại thở đều đều.
Tôi nhìn chiếc túi bóng xám đục đang nằm chỏng chơ dưới đất. Tôi đưa tay, từ từ gỡ lỏng nút thắt vừa buộc dở lúc nãy, lôi từng chiếc áo đồng phục, từng chiếc quần cộc của con ra ngoài. Tôi gấp gọn gàng từng thứ một rồi xếp thẳng thớm vào chiếc hòm tôn đựng quần áo đặt ở đầu giường.
Tôi giữ con ở lại bên mình. Khoảng trống mỗi đêm có thể rộng thêm một chút, giờ về nhà có thể muộn thêm một tiếng rưỡi, nhưng tôi không thể để con lặp lại cảm giác của một cái túi bóng bị buộc chặt miệng mang đi gửi nơi xứ khác.
Hai giờ sáng hôm sau, cả ngõ còn tối đặc, tôi đã dắt xe ra khỏi ngõ Bến Củi để kịp có mặt ở lò mổ xóm Bãi. Sáu mươi lăm ký xương ống tự tay tôi cân, tự tay tôi khuân lên xe máy, không thiếu một lạng.
Còn đứng được ngày nào thì còn nuôi được con ngày ấy, còn kịp cho bố nhìn thấy tấm biển tên ông. Có điều, đứng bếp than sáu tiếng mỗi đêm, chạy xe mười một cây số đường trơn lúc gà chưa gáy rồi bán liền hai lượt phở sớm, tôi không biết tấm thân gầy guộc này còn chống đỡ được bao lâu.