Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 8 phút · 1.512 từ
Răng chìa trượt trên mặt kim loại, phát ra tiếng lạo xạo khô khốc. Tôi thử lại lần thứ hai, ấn mạnh tay, cái rãnh đồng vẫn trơ ra, chặn cứng đầu chìa. Ổ khóa mới tinh, màu vàng choé, sáng hơn hẳn cái then sắt hoen gỉ của cổng quán số 12.
Phía trong sân, anh Khải đứng cạnh cái nồi lớn đã được kê ngay ngắn lên bệ mới lát gạch men trắng. Ghế nhựa đỏ xếp chồng thành ba cột cao ngang vai người, nằm sát mép tường. Hai người làm đứng nép bên cạnh, tay cầm khăn lau, mắt nhìn xuống chân.
Tôi rút chùm chìa khỏi ổ, bỏ lại vào túi áo. Tôi bóp chặt cái tạp dề bám mỡ bò dắt bên hông. Sân quán sạch bóng, mọi chiếc bàn đều đã úp ngược lên nhau, không còn mặt bàn nào để tôi với tay lau cho đỡ ngượng.
Tôi nhìn qua khe cổng sắt:
— Xương mai lấy mấy tạ?
Anh Khải không nhìn tôi, tay dồn cọc tiền lẻ năm nghìn mười nghìn trên bàn thu tiền, đập mạnh cạnh cọc tiền xuống mặt gỗ cho các mép phẳng phiu. Tiếng bồm bộp vang khắp khoảng sân hẹp.
— Nước dùng ai nếm?
tôi hỏi câu thứ hai.
Anh vẫn không ngẩng lên, ngón tay cái miết mép cọc tiền, gạt sang bên cạnh:
— Nhà này một chủ. Giấy tờ tên ai thì quán của người ấy, em gái sớm muộn cũng là người ngoài
.
Hai người làm lùi lại nửa bước, một người vội lách ra sau cột ghế nhựa đỏ để tránh tầm mắt tôi. Chị Loan ngồi ở góc bàn thu tiền, kẹp cây bút bi vào giữa cuốn sổ dày cộp, gập phập một tiếng rồi đặt hai bàn tay đè lên bìa.
— Mấy giờ nổi lửa?
tôi hỏi câu cuối.
Chị Loan ngước lên, giọng nhẹ như không:
— Cô Hằng cứ về nghỉ ít hôm cho lại sức, lương tháng này anh chị vẫn tính đủ
.
Bên kia đường, bà Lành quán nước đang nghiêng ấm rót chè bỗng ngừng tay, mắt nhìn thẳng sang. Ông Kỳ tắt máy chiếc xe máy cũ ở đầu phố, chân chống gạt kêu một tiếng chát chúa. Tôi xoay người, bước ra khỏi cổng, chiếc tạp dề cũ vẫn vò nát trong tay.
Ra khỏi cổng rồi, tôi vẫn nắm khư khư chùm chìa khóa trong túi áo.
---
Mười bốn mét lòng đường phố Lò Vôi lúc mờ sáng vắng tanh, chỉ có vài vệt nước rửa đường còn loang lổ.
— Hằng ơi, sang đây bà bảo
, bà Lành gọi với từ quán nước số 9 đối diện.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế con, tay kéo tấm giẻ lau trên mặt bàn gỗ của bà Lành. Mặt bàn khô rang, bám vệt chè đen cáu lại theo năm tháng. Tôi tỳ cả sức nặng của cánh tay xuống, miết mạnh miếng giẻ qua lại, miết đến mức chân bàn gỗ lung lay, kêu kèn kẹt trên nền vỉa hè.
Bà Lành rót một bát nước chè xanh, khói bốc mỏng, đặt nhẹ trước mặt tôi. Bà kéo vạt áo nâu lau hai bàn tay nứt nẻ, không nói câu nào, cứ thế ngồi nhìn tôi lau đi lau lại cái mặt bàn đã sạch.
Ông Kỳ chống chân xe máy, không tháo mũ bảo hiểm, nhìn thẳng vào mặt tôi:
— Mai có phở không?
Ánh mắt ông liếc qua vai tôi, nhìn sang cái nồi lớn bên kia đường chứ không thèm nhìn anh Khải. Tôi cắn môi, ngón tay bấu chặt mép giẻ. Bếp không còn, nồi đã mất, chỗ tôi đứng mười mấy năm nay giờ khóa kín bằng cái ổ đồng thau sáng loáng.
Bà Lành vén lại nếp khăn nhung trên đầu, tay chỉ về phía khoảng hiên gạch trước quán nước của bà:
— Con cứ dọn cái xe phở cũ của bố ra đây mà đứng. Bà già rồi, chỉ bán chén nước điếu thuốc từ sáng đến trưa, khoảng hiên này thừa chỗ kê cái tủ kính
.
Không có giấy tờ, không có một dòng cam kết, chỉ có giọng bà Lành nói đều đều, người bà nồng mùi dầu gió.
Tôi ngẩng lên nhìn ông Kỳ:
— Có
.
Tôi đặt miếng giẻ xuống mép bàn, xoay bát nước chè lại cho ngay.
---
Lối ngách sau quán số 12 hẹp chỉ vừa một người lách, lát gạch vỡ mấp mô và nồng nặc mùi ẩm mốc. Ổ khóa cửa kho phía sau vẫn là cái ổ sắt rỉ cũ, anh Khải chưa kịp thay. Chìa trong chùm của tôi còn mở được. Tôi đẩy cánh cửa gỗ ép ọp ẹp, bước vào trong bóng tối lờ nhờ.
Chiếc xe phở gỗ bố đóng từ năm 1994 nằm im lìm ở góc kho dưới lớp bụi dày. Hàng chữ sơn đỏ
— Phở Thịnh
trên thành xe đã tróc mất nửa chữ Thịnh, chỉ còn lại vệt sơn nham nhở. Mặt tủ kính mờ đục, bám đầy mạng nhện và bụi than cũ.
Tôi nhặt miếng giẻ dưới sàn, bắt đầu lau mặt kính. Cổ tay xoay tròn theo từng vệt lau, cọ sạch lớp bụi bám chặt.
Mùi gỗ ẩm bốc lên kéo theo hình ảnh buổi sáng mùa đông năm ấy, bố kê chiếc xe gỗ này ngay trước hiên nhà, bắt tôi lúc đó mới mười tuổi ngồi xổm bên bánh xe nhặt từng rổ hành hoa. Gió bấc thổi buốt ngón tay, bố đứng trên bệ, vừa thái thịt vừa gõ cán dao vào thành xe nhắc tôi nhặt cho sạch rễ. Tay tôi quen mùi hành, mùi mỡ bò từ những buổi ngồi xổm bên cái bánh xe ấy.
— Làm cái gì đấy?
giọng anh Khải vang lên ở cửa ngách.
Tôi buông giẻ lau, hai bàn tay nắm chặt lấy đôi càng xe bằng gỗ nghiến. Anh Khải đứng khoanh tay, mắt nhìn vào góc kho, bàn tay vỗ nhẹ vào túi áo ngực:
— Xe đấy của bố để lại, nằm xó này chín năm rồi. Cô thích tha đi đâu thì tha, đỡ chật kho
.
Anh nhìn chiếc xe như nhìn một đống củi mục chuẩn bị vứt ra bãi rác, rồi xoay lưng bước đi, không buồn ngoái lại.
Tôi nhặt lại miếng giẻ, lau nốt vệt sơn đỏ còn sót trên thành xe.
---
Căn nhà thuê cũ của hai mẹ con không có chỗ kê nổi một cái bếp than, nên tôi dọn sang ngõ Bến Củi. Căn phòng thuê mới ẩm và thấp, tường vôi tróc từng mảng lớn để lộ lớp gạch đỏ bên trong.
Người cho thuê nhà cầm cọc tiền, ba triệu hai tháng đầu và ba triệu hai tiền cọc, liếm ngón tay đếm từng tờ một cách chậm rãi. Đếm xong, ông ta thả chùm chìa khóa sắt mỏng dính vào tay tôi, mắt liếc nhìn chiếc xe phở gỗ cũ kỹ tôi vừa đẩy vào sân:
— Đừng có để khói than ám vào mấy nhà bên cạnh, người ta kiện lên tổ dân phố là tôi thu phòng đấy
.
Tôi gật đầu, cất số tiền còn lại vào túi trong áo khoác.
Sáng hôm sau, tôi mua chiếc nồi inox bốn mươi lít, mua than tổ ong, bốn chiếc bàn nhựa màu xanh lá, hai chục ghế con, mấy chồng bát đĩa sứ trắng và ba cái chậu nhôm lớn. Tiền đồ đạc hết mười một triệu. Khoản tiền chín mươi hai triệu dành dụm bấy lâu, sau khi trừ tiền cọc, tiền nhà và tiền sắm sửa, giờ chỉ còn lại bảy mươi tư triệu sáu trăm nghìn đồng.
Thằng Tí đi học về, đứng ở bậc cửa nhìn chiếc bếp than tổ ong đỏ rực tôi vừa dựng ngay giữa lối đi hẹp. Nó ngồi thụt xuống bậc thềm, hai gót giày đập nhè nhẹ vào chân tường vôi, miệng cắn chặt mép cổ áo học sinh đã sờn chỉ.
— Sao mẹ không nấu ở quán của bác Khải nữa?
nó hỏi, mắt dán vào cái bếp than.
Tôi cúi xuống, xếp cuốn sổ bìa xanh cũ kỹ và chiếc muôi gỗ cháy lẹm cạnh chân nồi inox:
— Từ mai mẹ nấu ban đêm
.
Thằng Tí không hỏi thêm câu nào. Nó cúi gầm mặt, tay mân mê cái quai cặp rách. Từ mai, tối nào trong phòng cũng chỉ còn nó với cái đèn tuýp.
Trên sợi dây thép phơi đồ giăng ngang đầu ngõ, chiếc tạp dề bám mỡ của tôi treo cạnh chiếc áo đồng phục trắng tinh của con, gió thổi bay phần phật. Tôi xoa hai bàn tay thô ráp vào nhau, những vết chai ở ngón trỏ và ngón cái vẫn còn nguyên đó. Tôi không có giấy tờ nhà, không có bệ gạch men trắng. Tôi có đôi bàn tay này và cái nồi kia.
Đêm nay một mình sáu tiếng bên nồi, ai trông lửa cho tôi, ai nếm hộ tôi bát nước đầu?