Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 8 phút · 1.667 từ
Tấm ảnh căn cước hai mặt của tôi bị phô-tô phóng to, lem luốc vệt mực đen. Bên dưới là ba dòng chữ in đậm khép tôi vào tội lừa đảo, kèm số điện thoại cá nhân chềnh ềnh ngay giữa trang giấy. Bốn tờ dán đè lên nhau trên thân cột điện xi măng đầu ngõ Mây, tờ nọ trùm lên góc tờ kia, xi măng khô ôm chặt lấy mép giấy giòn tan.
Tôi đứng ở góc ngõ, móng tay cái cạy mép giấy, miết mạnh vào thân cột. Giấy tơi ra từng mảnh nhỏ, để lại một lớp xơ trắng bám chặt vào mặt xi măng rỗ. Đầu ngón trỏ ấn vào mặt móng ngón cái tới khi móng bật trắng ra vì đau, tôi mới bóc xong mảnh cuối cùng. Bốn tờ giấy gấp làm tư, xếp đè lên nhau vuông vức trong lòng bàn tay, tôi đếm thầm từng nếp gấp.
Một bà xách làn nhựa đi từ trong ngõ ra, bước chân chậm lại ngay sát vai tôi. Mắt bà lướt qua dòng chữ đen in nổi, dừng lại ở tấm ảnh hai mặt rồi đánh mắt sang mặt tôi. Tôi nhìn thẳng lại. Bà né ánh mắt ấy, rảo bước nhanh hơn, cái làn nhựa đập vào hông từng nhịp. Bà đã nhớ mặt tôi. Tôi hiểu cái nhìn đó, nó là sự hoài nghi sẽ nhanh chóng lan ra khắp cái ngõ này vào buổi chợ sáng.
Tôi đi nhanh về phía hiên nhà cấp bốn. Ngay bên cạnh chậu lá lốt xanh tốt của mẹ, trên tường bể nước xi măng xám xịt, tờ thứ năm nằm chềnh ềnh ở đó. Mực in còn mới, chưa bị sương đêm làm mờ.
Bố tôi, ông Thước, đang cúi gập lưng bên bể nước. Ông xách xô nhựa màu đỏ, tay cầm bàn chải rễ cọ mạnh lên mặt tường xi măng. Tiếng bàn chải xoạt xoạt vang lên đều đặn. Lưng ông quay về phía tôi, cái áo may ba đã ngả màu cháo lòng đẫm mồ hôi dọc sống lưng.
— Bố
, tôi hạ thấp giọng, nói chậm từng chữ một,
— mấy hôm nay... có ai tới nhà mình không bố?
Bố không quay lại. Tay ông vẫn đưa bàn chải rễ theo một vòng tròn trên mặt bể, nước xà phòng chảy vệt dài xuống chân chậu lá lốt.
— Mấy hôm nay chả có ai tới đây cả
, ông nói vọng vào trong nhà, giọng ráo hoảnh, không một chút gợn.
Câu hỏi của tôi rơi xuống, chìm trong tiếng nước sánh trong xô. Tôi tiến lại, giơ ngón tay cạy tờ giấy trên tường bể. Xi măng ăn giấy, khi bóc ra, một mảng giấy bồi vẫn dính chặt lấy thân bể, để lại một khoảng xám trắng nham nhở.
Từ trong nhà, mẹ tôi, bà Lựu, cầm chiếc chổi xương bước ra. Bà không nhìn tôi, cũng không nhìn bố. Bà dồn sức đẩy từng vệt chổi trên sân gạch, rồi quét tràn ra tận ngoài cổng sắt. Khoảng đất trước cổng sạch nhẵn, không một chiếc lá khô, nhưng bà vẫn di chổi qua lại. Ánh mắt mẹ hướng ra ngoài con ngõ nhiều hơn nhìn vào đầu chổi.
Năm tờ giấy đã nằm gọn trong tay tôi. Bốn tờ ở cột điện, một tờ ở tường bể nước. Bố khép cửa bằng một câu nói dối, mẹ bịt kín ngõ bằng tiếng chổi xương. Nhưng tờ giấy đã dán lên tận bể nước sát hiên nhà, nếu không có người bước chân qua cái cổng sắt sơn xanh này, thì ai đã đứng ở đây để dán nó?
---
Tôi đi ngược ra đầu ngõ, bước vào quán nước của dì Út.
Quán nhỏ nằm dưới bóng cây trứng gà, chỉ vỏn vẹn một cái chõng tre, vài cái ghế nhựa đỏ và thùng đá bọc bao tải. Dì Út đang loay hoay bọc lại chiếc khăn bông ướt quanh bình trà tích bằng sứ.
— Dì Út
, tôi gọi, bước tới gần chõng.
Dì không ngẩng đầu, tay vội rót một cốc trà đá đầy tới tận miệng, dúi thẳng vào tay tôi.
— Nắng ngột ngạt thế này, uống đi con cho mát. Rõ khéo, mới sáng ra đã oi nồng
.
Dì quay lưng về phía tôi, kéo mép khăn ướt quấn quanh bình trà chặt hơn mức cần thiết. Dì dùng cả hai bàn tay miết mạnh lớp vải, ghim chặt chiếc lạt giang vào thân bình.
Tôi giấu xấp giấy vào cặp, ngồi xuống cái ghế nhựa đỏ đặt sát tường vôi. Bố mẹ tôi nuôi tôi ăn học bằng gánh hàng rau, còn dì Út ngồi ở góc ngõ này từ ngày tôi mới lọt lòng. Không một ai bước qua đầu ngõ Mây mà dì không biết.
Tôi đặt hai tay úp lên nhau trên đầu gối, cốc trà đá để nguyên bên cạnh. Mồ hôi đá đọng lại quanh thành cốc, chảy xuống mặt ghế nhựa tạo thành một vòng tròn nước đục. Tôi ngồi yên như thế gần một tiếng đồng hồ. Tôi chờ. Chờ cho mấy người khách mua thuốc lá lẻ đi hết, chờ cho cái lưng quay đi của dì phải quay lại.
Đúng lúc tôi đứng dậy, tiếng xe máy rè lên rồi khựng lại ngay đầu ngõ.
Một người đàn ông đi xe máy tay ga màu đen dừng lại, một chân chống xuống mặt đường nhựa, xe vẫn để nổ máy. Hắn không tắt máy, cũng không dựng xe, mắt lướt qua tấm biển ngõ Mây rồi nhìn thẳng vào quán.
— Bà cho hỏi, nhà ông Thước số bao nhiêu?
hắn cất giọng.
Dì Út khựng tay muôi trong thùng đá, không trả lời.
Hắn quay đầu, ánh mắt xếch ngược đảo qua góc quán rồi dừng lại đúng mặt tôi. Hắn nhếch môi, gọi đủ cả họ và tên tôi, rồi cất giọng lạnh ngắt:
— Chị cứ nói với nhà là chủ nợ không biết chờ đâu
.
Nói xong, hắn vặn mạnh tay ga. Chiếc xe nhô đít xả một luồng khói xám rồi mất hút ra đường lớn.
Dì Út đứng im như tượng gỗ. Tay dì vẫn cầm cái muôi nhôm múc đá, mắt nhìn theo vệt khói xám ở đuôi xe, nhìn lâu hơn cả tôi.
Tôi lặng lẽ lấy chiếc bút từ túi áo, mở trang sổ tay ngay dưới những ký tự ghi chép trước đó, nắn nót chép lại dãy số trên biển xe máy vừa phóng đi.
Tiếng nhôm va vào xốp vang lên khô khốc. Dì Út gõ cái muôi xuống thành thùng đá ba nhịp đều đặn. Dì quay lại nhìn tôi, gương mặt hằn sâu những vết chân chim trầm xuống.
— Con cứ cẩn thận ở cổng trường
, dì chỉ nói đúng một câu như thế rồi cúi xuống múc đá.
---
Tối hôm đó, mâm cơm nhà cấp bốn chỉ có bát rau muống luộc và đĩa cá kho khô. Cái quạt trần quay lè rè sát trên đầu.
Bố tôi lùa vội bát cơm rồi đứng dậy. Ông bước ra hiên, soi đèn pin đi tìm hộp dụng cụ kim loại. Ông kéo chiếc hộp sắt ra giữa sân, tiếng cờ-lê, mỏ-lết va vào nhau lạch cạch trong đêm. Ông cúi xuống cái vòi nước sắt ở tường bể xi măng, vặn ra rồi lại vặn vào, dù vòi nước vốn chẳng hề rò rỉ. Ánh đèn hiên vàng võ chiếu thẳng lên tấm lưng gầy còm, nổi rõ những đốt xương sống của ông.
Tôi đứng ở ngưỡng cửa, nhìn thẳng vào lưng bố.
— Bố
, tôi cất tiếng, giọng thấp và chậm như người ta đọc chính tả,
— ban ngày đã có ai tới đây hỏi nhà mình chưa bố?
Động tác của bố khựng lại một nhịp. Ông không quay đầu, tay lại tiếp tục siết chặt cái mỏ-lết vào thân vòi.
Mẹ tôi đứng ngay bên khung cửa gỗ, tay ôm chiếc chổi xương dựng đứng. Bà bật ra một tiếng cười gượng gạo trước khi cất lời:
— Ôi dào, cái nhà ông Tám bên kia ngõ tháng trước cũng bị đứa nào nó dán giấy đầy cổng đấy. Giờ tụi trẻ ranh nó phá làng phá xóm, chấp làm gì...
Bà cố kéo câu chuyện sang nhà người khác, giọng hồ hởi quá mức. Nhưng tôi thấy rõ hai môi mẹ mím chặt lại ngay sau khi câu nói kết thúc. Bàn tay bà nắm chặt lấy thân chổi xương tới mức da mu bàn tay hằn lên từng vệt đỏ.
Bố vặn cái vòi nước đã kín khít từ lâu, cố dùng sức siết thêm một vòng nữa cho tới khi cổ tay ướt đầm nước bể. Ông ho một tiếng khan, rồi nén nốt cái ho còn lại xuống.
Tôi không hỏi thêm câu nào nữa. Bố mẹ có chối thêm nữa cũng chẳng để làm gì. Tôi bước ra hiên nhà, ngồi xuống bậc gạch đỏ lát hiên đã mòn vẹt góc. Tôi lấy năm tờ giấy đã bóc từ trong cặp ra, đặt lên đùi, vuốt phẳng từng nếp gấp rồi xếp chúng lại thật thẳng mép.
Năm tờ giấy phẳng phiu trên đùi. Một biển số xe máy nằm gọn trong sổ tay. Và phía trước mặt tôi, trên tường bể nước xi măng, vệt hồ dán xám trắng còn lại sau trận cọ rửa hồi sáng vẫn nằm nguyên ở đó, cọ mãi mà chẳng chịu sạch.
Lời dặn của dì Út ban sáng lại vang lên bên tai tôi, chập chờn cùng ánh nhìn của gã đi xe máy. Gã đã biết tên tôi, biết mặt tôi, và biết cả nơi tôi đi về mỗi ngày. Tôi rùng mình nhìn ra cánh cổng sắt sơn xanh đang khép hờ ngoài ngõ, tự hỏi điều gì đang lặng lẽ chờ chực tôi ở phía sau cánh cổng trường vào sáng ngày mai?