Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 9 phút · 1.733 từ
Tiếng xích sắt va lập cập vào hộp che dĩa nghe khô khốc dội từ trong khoảng sân trọ tráng xi măng ra tới tận ngoài đường cái.
Bà Mười đứng ngay mép cửa rào, hai cánh tay gầy guộc thoăn thoắt túm mấy sợi dây kẽm phơi đồ dồn hết lại một góc cột bê tông. Thấy bóng tôi dừng trước cổng, bà ngoảnh mặt ra, giọng the thé át cả tiếng gió chiều:
— Tưởng ai, cô Thảo. Bà Hạnh gom tiền bán bánh mấy bận, vừa mua lại cái xe sườn đầm cũ chín trăm nghìn của thằng Hai sửa khóa đầu xóm đó. Chiều nào cũng lôi ra đây tập, tui phải dẹp bớt dây phơi kẻo bà ấy quẹt trúng lại té ra đó thì khổ
.
Nói xong, bà Mười rút cuốn sổ tay nhét ở cạp quần ra lật lật, mắt liếc chừng chừng coi tôi có đẩy cổng bước vào để làm ầm ĩ lên hay không.
Bên trong sân, mẹ tôi lom khom dắt chiếc xe đạp màu xanh tróc sơn từng mảng, hai ngón chân cái bấm chặt lên mặt xi măng, cẩn thận bước từng bước lượn vòng qua mấy chậu kiểng sứt miệng. Chiếc áo bà ba màu tro mẹ mặc đã sờn rách ở mép vai, lưng áo ướt một vệt mồ hôi hình mũi thuyền. Lúc vòng qua khúc quanh bể nước, mẹ ngẩng mặt lên. Ánh mắt mẹ chạm vào tôi qua khe hở của cánh cổng sắt han gỉ, bình thản như nhìn một người đi ngang đường. Mẹ không dừng lại, cũng chẳng cất tiếng gọi, chỉ khẽ cụp mi mắt rồi tiếp tục khom lưng, dắt chiếc xe đi thêm một vòng nữa về phía dãy phòng trọ nằm sâu bên trong.
Tôi đứng chôn chân, mấy đầu ngón tay ghì chặt lên thanh then chốt cổng lạnh ngắt, đầu lưỡi vô thức đẩy mạnh vào mặt trong má phải đến rát buốt. Tôi sợ chỉ cần mình cất bước qua khỏi ngạch cửa kia, mẹ lại buông tay lái, rồi bữa cơm chiều nay giữa hai mẹ con sẽ chỉ còn tiếng đũa chạm vào thành bát trong im lặng đến nghẹt thở. Tôi đứng trơ ra đó cho tới khi cái lưng gầy của mẹ cùng chiếc xe đạp khuất hẳn sau khúc quanh vách tường. Mẹ đã sáu mươi mốt tuổi, tập đạp một chiếc xe cũ giữa sân trọ chật chội, rồi những ngày tới, không biết mẹ còn chở nổi bao nhiêu trên con đường đó. Tôi buông chốt cửa, dúi qua khe cổng cho bà Mười gói tôm khô với mớ bánh tráng dừa dì Tư gửi lên cho mẹ, dặn bà nói là quà dưới quê, rồi quay lưng đi ngược ra đường lớn. Chỉ mấy hôm sau, một buổi sáng, tôi đang ở nhà thì bé Na gọi, giọng run bần bật, nói bà bị té xe, người ta chở vô bệnh viện Hoà Mỹ rồi.
---
— Em Thảo, bên này!
Tiếng dì Sáu Thơm gọi giật ngược từ dãy ghế băng đặt dọc hành lang khoa chấn thương bệnh viện Hoà Mỹ. Mùi cồn sát trùng xộc thẳng vào mũi. Dì Sáu ngồi co ro, cái áo choàng nilông chuyên dùng để cắt tóc loang lổ vệt bùn đất được dì gấp lại làm tư, đặt gọn gàng ngay trên đùi.
Vừa thấy tôi bước dồn dập tới, dì Sáu đã xua tay, giọng còn nguyên vẻ hớt hải:
— Khổ lắm em Thảo ơi, sáng sớm nay bà Hạnh đạp xe chở cái thùng bột lên chợ, đến khúc cua chỗ đầu chợ Cầu Ván đoạn đường người ta đang làm cống đổ nghiêng lại có vũng nước đọng, xe trượt bánh ngã nhào ra. Dì đang cầm kéo trong tiệm ngó thấy, vội giũ cái áo choàng này trải vội xuống mép đường rồi xốc nách đỡ bà Hạnh dậy
.
Tôi chưa kịp thở ra một hơi trọn vẹn thì mắt đã chạm phải chiếc nón lá rách vành đặt cạnh mép ghế sắt. Dì Sáu hất cằm về phía góc hành lang, nói tiếp:
— May có ông Lộc đang đứng bán vé số gần đó. Ông ấy quăng luôn cả bó vé số buộc dây cao su nằm chỏng chơ trên thùng xốp, chạy lại bế thốc bà Hạnh gọi chiếc xe ba gác chở thẳng vào đây cấp cứu
.
Tôi cúi nhìn tập hồ sơ bệnh án kẹp trong bìa nhựa màu xanh đang nằm trên mặt ghế sắt. Tờ giấy nhập viện còn thơm mùi mực in, ở dòng người nhà ký tên, nét chữ xiêu vẹo ghi rõ ba chữ: Trần Văn Lộc. Ngay bên cạnh, ô quan hệ với người bệnh chỉ vỏn vẹn hai chữ viết bằng bút bi xanh: người quen.
Ông Lộc ngồi ở mép ghế bên kia, chiếc áo sơ mi bạc màu dính mấy vệt nhựa chuối khô queo. Thấy tôi cứ nhìn trân trân vào góc dưới tờ giấy, ông luống cuống cầm cái nón lá quạt lia lịa vào ngực dù quạt trần trên đầu vẫn chạy:
— Cô Thảo đừng lo, bác sĩ xem phim chụp rồi, bảo chỉ bị gãy kín ở tay trái thôi
.
Nói đoạn, ông Lộc lẳng lặng đứng dậy, nhường hẳn cả chiếc ghế băng dài lại cho tôi rồi lùi từng bước ra đứng nép cạnh khung cửa kính mờ của phòng chụp X-quang. Tôi không ngồi xuống, cũng không nhìn ông thêm lần nào nữa. Cầm lấy tờ phiếu chỉ định đóng viện phí, tôi xốc lại quai dép, bước thật nhanh về phía quầy thu ngân ở cuối hành lang như thể chỉ cần nộp tiền xong là tôi có thể gạt phăng đi dòng chữ ký của người đàn ông đầu hẻm kia.
Tám triệu rưỡi cho bốn ngày nằm viện, tiền chụp chiếu, tiền thuốc men và tiền bó bột cố định. Tôi lấy bút ký vào mép dưới biên lai thu tiền viện phí. Ký xong, tôi lật lại tờ giấy tiếp nhận ban đầu, ngón tay run lên khi nhìn chỗ dành cho người nhà đã có sẵn cái tên Trần Văn Lộc.
---
Bốn ngày mẹ nằm trong phòng bệnh, tôi không bước qua bậu cửa lấy một lần.
Mỗi cữ trưa và cữ chiều, tôi nấu cháo bắp bò hạt sen mang vào, đứng nép sau tấm bình phong ngăn ở cửa ra vào rồi đưa cà mèn qua tay bé Na hoặc bà Mười. Con bé Na bưng cà mèn bước vào trong, lúc đi ra nó cố tình để cánh cửa gỗ hé mở một khoảng rộng bằng gang tay, mắt nhìn tôi dò xét:
— Mẹ không vào với bà thật à?
Tôi lắc đầu, tựa lưng vào vách tường gạch men láng bóng. Mấy lần sau, con bé thấy tôi cứ đứng lỳ ngoài dãy hành lang thì đưa cháo cho bà Mười mang vào hộ, còn nó kéo chiếc ghế nhựa ra ngồi xuống bên cạnh tôi, một bên tai cắm tai nghe nghe nhạc, bên tai còn lại để trống như chờ tôi đổi ý.
Qua khe hở hẹp của cánh cửa phòng bệnh, tôi thấy mẹ nằm nghiêng trên chiếc đệm bọc da màu xanh. Cánh tay trái bó bột trắng toát được kê cẩn thận trên một chiếc gối nhỏ đặt ngay ngắn trước bụng. Cánh tay phải của mẹ đưa lên, chầm chậm vuốt lại những sợi tóc ngắn cũn cỡn vừa cắt ngang tai, ngập ngừng một lúc rồi buông xuôi xuống mép drap trải giường.
Đêm cuối cùng trước ngày xuất viện, hành lang bệnh viện vắng ngắt, chỉ còn tiếng bước chân của cô y tá đi đo huyết áp cọ quẹt trên sàn gạch. Tôi ngồi một mình trên dãy ghế sắt lạnh ngắt, rút chiếc lược sừng trong túi xách ra, chải từng lọn tóc của mình từ phía sau ót ngược về phía trước.
Tôi tự đếm lại những thứ mình đã từng lôi ra để dựng thành bức tường ngăn cách giữa mẹ và người đàn ông bán vé số kia. Bản photo giấy tờ căn nhà cũ, tờ biên nhận cầm đồ rách mép, lá đơn xin ly hôn mẹ viết tay năm xưa, và cả những lời đồn thổi về gốc gác không rõ ràng của ông Lộc mà tôi cố công đi tìm kiếm. Nhưng chẳng có gì cả. Chuyện bẩn thỉu về ông Lộc không có lấy một mẩu. Còn cái lẽ tôi vẫn nắm, rằng ông ta chỉ là người đầu hẻm mới quen, thì đã rụng sạch từ chuyến đi về miệt Vàm Sậy đợt trước.
Tôi mở ví tiền ra xem. Trả xong tiền viện, tiền nợ sửa nhà với tiền mặt bằng hai tháng Năm, tháng Sáu, bên trong chỉ còn mười bốn triệu rưỡi tiền mặt, trong khi cái tiệm uốn tóc của tôi ngoài phố đã hạ cửa cuốn sang tháng thứ ba. Tôi không còn tin ông Lộc đang tìm cách dụ dỗ hay lừa gạt mẹ tôi nữa, cũng không còn dám khẳng định ba mươi lăm năm mẹ sống bên bố là một chuỗi ngày êm ấm trọn vẹn như lời tôi vẫn thường tự kể với chính mình. Nhưng trong lòng tôi vẫn còn một nỗi uất không sao nuốt xuống được, rằng mẹ đã chẳng hề nghĩ tới thể diện của con cái khi để một người dưng đứng ra lo liệu mọi chuyện lúc hoạn nạn.
Tôi không còn một tờ giấy nào, một lý do nào để đem ra chặn trước mặt mẹ hay ông Lộc. Người ký tên nhận trách nhiệm trên tờ giấy đưa mẹ vào viện là ông Lộc, còn tôi, đứa con gái mẹ mang nặng đẻ đau, rốt cuộc chỉ là người đứng nhìn vào từ phía ngoài hành lang.
Đêm càng về khuya, ánh đèn tuýp trên trần nhà càng tỏa ra thứ ánh sáng nhợt nhạt và lạnh lẽo. Khi trong tay không còn lấy một mảnh lý lẽ để ngăn cản, và số tiền dành dụm cũng đang vơi dần đi từng ngày, tôi chẳng biết mình sẽ lấy thứ gì ra để giữ mẹ ở lại bên mình, và tôi còn được phép giữ lại hình bóng của bố trong ký ức theo cách nào nữa.