Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 8 phút · 1.554 từ
Giữa tháng Năm, gần một tháng sau cái bữa tôi đứng nhìn khách bỏ sang tiệm đối diện, tôi mới thu xếp được chuyến về quê mẹ. Tiếng còi xe rác ngoài đầu hẻm Cây Sộp dội vào qua khe cửa sắt, khô khốc và đều đặn. Tôi kéo khóa chiếc giỏ xách du lịch, kiểm tra lại cái lược răng thưa và chiếc kẹp tóc bằng nhựa màu xanh đã bạc thếch nhét ở ngăn phụ.
Con bé Na đứng tựa cạnh tủ chén, một bên tai cắm dây nghe nhạc, bên còn lại thả lơ lửng xuống vai. Nó nhìn tôi xếp mấy bộ đồ, mắt không chớp.
— Mẹ đi ba ngày. Mấy bữa này con qua ăn cơm bên ông bà nội trong hẻm, tan học là về thẳng bên đó nghe chưa?
. Tôi vừa nói vừa lấy vạt khăn chùi cái vết ố trên mặt tủ chén, chùi đi chùi lại chỗ đã sạch bóng từ sớm.
— Mẹ về quê bà ngoại làm gì?
, con bé hỏi, ngón tay mân mê sợi dây tai nghe màu trắng.
— Về thăm dì Tư...
, tôi đáp, giọng bất giác chùng xuống ở đuôi câu, nghe như chính mình đang hỏi lại mình.
— Hay ba ngày đó con xuống trọ ăn cơm với bà ngoại được không mẹ?
, con bé bước tới một bước, mắt sáng lên.
— Không
, tôi dằn chiếc khăn xuống.
— Mẹ dặn sao cứ nghe vậy đi
.
Con bé Na nhìn tôi thêm vài giây, sợi dây tai nghe bên vai đung đưa nhè nhẹ. Ánh mắt nó lảng sang chỗ khác, vẻ mặt của đứa biết mẹ nó chưa nói hết, nhưng nó không cãi thêm lời nào, chỉ cắm nốt bên tai nghe còn lại vào tai rồi bước vào phòng trong.
---
Trưa trờ trưa trật, chiếc xe đò thả tôi xuống đầu cầu sắt thị trấn Vàm Sậy. Nắng rọi xuống mặt rạch vàng quánh như mỡ gà, gió phả lên mùi bùn non ngai ngái.
Tôi bước vào khoảng sân rợp bóng dừa nước, dì Tư Mến đang ngồi lặt mớ rau ngót bên hiên. Thấy tôi xách giỏ bước vào, dì vội đứng dậy, phủi vạt áo bà ba, nét mặt vừa mừng vừa ngỡ ngàng. Tôi đặt túi quà, mấy hộp sữa với gói bánh quy, lên cái bàn tròn bằng thiếc.
— Cháu mới tới, uống miếng nước cho đỡ khát
, dì Tư rót ra chiếc ly thủy tinh da cam, đẩy về phía tôi. Dì ngồi xuống chiếc ghế đối diện, nhìn tôi một lượt rồi hỏi ngay.
— Chị Hạnh dạo này ở trọ ra sao rồi cháu? Bữa trước nghe người ta nói chị dọn ra ngoài, dì lo quá chừng
.
— Mẹ cháu vẫn ở bên đó, ăn uống thì thất thường lắm dì
, tôi đáp, ngón tay tôi xoay xoay chiếc ly nước, miết quanh miệng ly dẫu nó chẳng dính hạt bụi nào.
Dì Tư nghe vậy liền với tay cầm cái vá gõ mạnh vào thành nồi canh đang sôi trên bếp lò, phát ra một tiếng cạch chát chúa rồi buông thõng tay xuống. Dì không nhìn tôi, mắt nhìn đăm đăm vào ngọn lửa củi đang cháy liu riu dưới đáy nồi.
Tôi hớp một ngụm nước, cổ vẫn ráo, dò xét nét mặt của dì rồi cất tiếng hỏi nhỏ.
— Dì Tư, ông Lộc hồi xưa ở xứ này sống ra sao vậy dì? Dì có nghe ổng có nợ nần ai, hay có vợ con riêng ở đâu không? Hồi đó tới giờ có ai thưa kiện gì ổng chưa dì?
Dì Tư ngước lên nhìn tôi trân trân. Ánh mắt dì sắc lẻm như muốn lột trần mớ toan tính tôi đang giấu kín trong bụng. Dì không trả lời ngay mà đứng dậy.
— Chờ dì coi lại
.
Dì bước chậm rãi ra mé sàn nước, mở nắp chiếc lu sành da lươn, múc một gáo nước đầy rửa sạch hai mu bàn tay rồi lau vào chiếc khăn vắt trên dây kẽm. Khi quay trở vào trong nhà, dì ngồi lại chỗ cũ, giọng rành rọt từng chữ.
— Nhà ông Lộc hồi đó làm nghề máy tàu dưới bến Vàm. Hồi còn trẻ ổng theo người cậu ruột xuống tàu làm thợ máy, chạy biển miết tận miệt U Minh. Ổng lấy vợ sinh con ở đằng đó, chừng vợ mất vì bạo bệnh mới lên thành phố ở với con Hoa. Ổng không có nợ nần ai một cắc, làng trên xóm dưới chẳng ai thưa kiện nửa câu, và cũng chẳng có đứa con rơi con rớt nào ngoài con bé Hoa hết
.
Dì Tư nhìn thẳng vào mắt tôi, buông một câu như nhát dao phạt ngang.
— Cháu cất công lặn lội về đây tìm cái bẩn của người ta đem về chặn mẹ cháu, thì dì nói thật lòng, chẳng có cái bẩn nào để cháu tìm đâu
.
Tôi ngồi chết trân, cổ họng nghẹn ứ, chiếc ly nước trên bàn nghiêng đi một chút suýt sánh ra ngoài.
---
Chiều muộn buông xuống dòng rạch Vàm Sậy, khói đốt đồng từ phía bên kia bờ bay qua bảng lảng, mang theo mùi rơm rạ khét nồng.
Gian nhà ngoài nhá nhem tối. Dì Tư lấy chiếc khăn bông cũ thấm nước giếng, đứng lau bụi trên bàn thờ ông bà ngoại. Tôi đứng nép bên cột nhà, cố nối lại câu chuyện bỏ dở lúc trưa.
— Dì Tư, nếu hồi đó ổng đàng hoàng vậy, sao mẹ cháu...
Dì Tư không đáp. Chiếc khăn trên tay dì vẫn đưa đều đặn qua mép gỗ mục. Dì vừa lau vừa kể, giọng đều đều như tiếng nước ròng chảy qua chân cầu.
— Chị Hạnh cưới anh Kiên ba cháu là do người lớn hai bên sắp đặt hết. Ông ngoại cháu nhận lời người ta, nhận trầu cau xong xuôi rồi mới kêu chị Hạnh ra báo một tiếng. Chị biết chuyện sau cùng, không kịp nói nửa lời
.
Dì đưa chiếc khăn lau sạch bóng cả ba bát nhang bằng sành màu xanh lam, tỉ mẩn gạt từng hạt tàn hương rơi vãi chung quanh rồi mới chịu ngồi xuống chiếc ghế đẩu. Khói nhang dì mới thắp tỏa ra, mùi trầm ngòn ngọt lan tới chỗ tôi đứng làm tôi nhớ tới những chiều giỗ chạp ở căn nhà cũ. Bố tôi ngày còn sống cũng hay đứng châm nhang như thế, mỗi lần giỗ ông bà nội, mẹ tôi chỉ lẳng lặng bưng mâm cỗ từ dưới bếp đặt lên phản rồi lại quay xuống góc sàn nước rửa mớ chén bát dơ, suốt mấy chục năm chưa từng ngồi chung bàn trên với họ hàng bên nội.
Dì Tư đứng dậy, ngoắc tay bảo tôi đi theo. Dì dẫn tôi vào gian buồng trong tối om, đưa tay chỉ vào chiếc giường tre ọp ẹp kê sát vách lá.
— Cái giường tre này từ năm chị Hạnh đi lấy chồng tới giờ vẫn kê y nguyên chỗ đó. Đêm trước hôm họ rước dâu, hai chị em dì nằm co ro trên tấm vạt tre này, chị Hạnh trằn trọc không chợp mắt nổi một phút. Chị quay qua ôm vai dì, nói nguyên một câu mà dì nhớ tới tận bây giờ. Chị bảo chị chẳng buồn hỏi người ta là ai, chị chỉ ước một lần trong đời có người hỏi ý chị trước
.
Tôi nghe mà lặng người. Tôi nhớ lại bữa cơm tối mẹ buông đũa báo chuyện đám cưới, tôi đã gạt phăng đi, đã mắng mẹ hồ đồ, chưa từng một lần mở miệng hỏi xem mẹ thật sự muốn gì cho quãng đời còn lại.
Tôi ngồi phịch xuống mép giường tre, những nan tre cọ vào lớp vải quần thô ráp. Mở giỏ xách, tôi rút chiếc lược sừng ra chải tóc, kéo lược từ đỉnh đầu xuống hết đuôi tóc, hai hàm răng vô thức siết lại. Chải được vài lượt, ngón tay tôi chạm phải chiếc kẹp tóc nhựa xanh bạc thếch trong ngăn phụ. Tôi cầm nó lên, xoay tròn trong kẽ tay, món đồ cũ dì Sáu Thơm trả lại từ hồi tháng Ba, giữ tới giờ mà không biết giữ để làm gì.
Dì Tư đứng tựa lưng nơi khung cửa buồng, nhìn tôi chải tóc mà không hỏi một câu nào. Dì thở dài một tiếng thật khẽ rồi quay ra phía bàn thờ thắp sáng ngọn đèn dầu.
Đến tối mịt, khi gió ngoài rạch thổi từng cơn lạnh buốt qua vách lá, dì Tư quay trở vào buồng, trên tay cầm một mẩu giấy nhỏ đã ố vàng mép gấp. Dì dúi mẩu giấy vào túi áo khoác của tôi.
— Sáng mai cháu chịu khó đi bộ ra quán nước mía trước cổng trường cấp ba Hoà Sơn, tìm gặp bà Nhung. Bả học chung lớp với chị Hạnh năm xưa đó. Những chuyện thời đó bả biết nhiều hơn dì
.
Tôi cầm tờ giấy có nét chữ run run của dì ghi tên bà Nhung và chỗ cái quán nước, ngón tay siết chặt lấy chiếc kẹp tóc nhựa xanh trong túi áo.