Đi Xem Mắt Hộ Được Chồng Đẹp Trai
Đăng nhập
Chương 4 / 24

Ảnh thờ nhà bên

Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 11 phút · 2.161 từ

Đi Xem Mắt Hộ Được Chồng Đẹp Trai — chương 4 — Ảnh thờ nhà bên

Mùi thuốc hãm màu và hơi ẩm của giấy in bốc lên từ góc nhà, quẩn quanh chỗ cánh quạt trần quay lờ đờ. Hơn một tuần sau kỳ lương, tôi gạch từng ngày trên cuốn lịch bàn bọc nhựa để ở mép quầy, hôm nay là ngày thứ mười tám, còn mười bảy ngày nữa là tới hạn.

Cái điện thoại lắp sim Hạnh đưa cho tôi, nhét trong túi quần bò rung lên một nhịp ngắn rồi tắt ngấm. Tôi áp lòng bàn tay vào lớp vải bò thô ráp, vừa ngẩng lên thì thấy một bà cụ đứng lấp ló ngoài cửa tiệm. Người bà gầy còm, hai tay ôm khư khư cái bọc vải nhung đỏ trước ngực. Đôi mắt bà đảo quanh căn tiệm nhỏ, nhìn chiếc ghế quay tụt mất một bên tay vịn, liếc qua hộp các-tông đựng mấy tấm ảnh hỏng để dưới chân bàn, vẻ ngập ngừng hiện rõ trên từng nếp nhăn đuôi mắt.

Bà bước vào, đặt bọc vải lên mặt kính quầy:

— Cô xem giúp tôi tấm này có cứu được không. Sắp đến ngày giỗ ông nhà rồi, mà cái tường ẩm nó ngấm nước mưa làm tróc hết một mảng

.

Bà mở lớp vải nhung ra. Tấm ảnh thờ đen trắng cỡ hai mươi nhân ba mươi, phần trán và mắt còn nguyên, nhưng toàn bộ gò má và khóe miệng bên phải đã bị nước vôi ăn loang lổ, trơ ra lớp giấy bồi mốc xám xịt.

Tôi vừa hé môi định quay lại gọi thì cô Bảy đã đứng dậy, đẩy ghế ra, đi vào chỗ máy in trong góc:

— Việc đó để con bé Vy làm

.

Cô Bảy buông một câu khô khốc rồi cắm cúi lau đầu kim phun, tuyệt nhiên không nhìn ra ngoài quầy lấy một cái. Tôi đứng chôn chân giữa ánh nhìn soi xét của bà khách.

Bà cụ nhìn tôi, rồi nhìn vào góc tối nơi cô Bảy đang cặm cụi, giọng chùng xuống:

— Tôi tính đem thẳng ra tiệm lớn ngoài phố to cho yên tâm, nhưng đi ngang qua đây thấy có tiệm ảnh nên ghé hỏi thử xem sao. Chứ ảnh người khuất núi, làm bậy bạ mang tội chết

.

Bà nói thẳng tuột, chẳng buồn giấu cái ý coi tiệm Tân Kỳ này chỉ là chỗ ghé tạm qua đường. Tôi nuốt khan, ngón tay miết nhẹ mép khung kính:

— Bác để cháu xem kỹ lại chút. Nước ăn hết lớp bạc trên mặt giấy rồi, phần má này phải vẽ lại bằng nét số trên máy tính. Cháu làm được, nhưng nếu chỉ nhìn nửa mặt còn lại mà dựng sang thì dễ bị đơ, không ra được cái thần của bác trai

.

Bà cụ nhíu mày:

— Thế thì tính sao?

— Bác còn tấm hình nào khác của bác trai chụp hồi xưa không, tấm nhỏ xíu chụp chung cũng được, để cháu lấy chỗ đối chiếu cái miệng với độ cong gò má

.

Bà cụ ngập ngừng thò tay vào túi áo nâu, lôi ra một chiếc ví da cũ mòn góc, rút tấm ảnh cưới cỡ sáu chín ngả màu vàng ố kẹp trong ngăn gấp của ví:

— Chỉ còn tấm này chụp hồi cưới năm bảy mươi hai, nhỏ bằng bàn tay, cất trong ví từ đó tới giờ

.

Tôi đón lấy tấm ảnh cưới, hai mép ảnh đã sờn rách nhưng chàng trai trẻ bên cạnh cô dâu vẫn còn nguyên chiếc răng khểnh và khóe môi hơi nhếch khi cười:

— Bác cho cháu gửi lại tấm này làm mẫu. Cháu là Vy, cháu nhận phục chế tấm ảnh này cho bác, ba ngày nữa bác ghé lại lấy

.

Bà cụ nhìn tôi hồi lâu, bàn tay gầy guộc chần chừ buông khỏi mép tấm ảnh thờ, gật đầu một cái rồi quay lưng bước ra ngõ. Tôi đứng sau quầy, nhìn khoảng trống loang lổ bên má người đàn ông đã khuất trên mặt giấy ố vàng, trong đầu đã bắt đầu xếp lại những mảng sáng tối phải dựng.

---

Hai buổi chiều liền sau đó, tôi ngồi dán mắt vào màn hình máy tính lồi trong góc tối của tiệm. Tấm ảnh cưới nhỏ được tôi quét vào máy với độ phân giải cao nhất, phóng to lên để nhìn rõ từng thớ da, từng bóng đổ nơi hốc má của ông cụ thời trẻ. Tôi dùng bút vẽ điện tử tỉ mỉ từng nét chấm, kéo từng mảng màu xám nhạt đắp vào khoảng rỗng bị nước ăn mất.

Thấy khuôn mặt ông sau khi đắp da có vẻ hơi gầy gò khắc khổ, tôi tiện tay rê chuột kéo nhẹ một đường cong, nới nếp má bên phải đầy ra một chút cho khuôn mặt đỡ hốc hác.

Một ngón tay trỏ khô ráp, sạm đen vì dính dung dịch tráng phim gõ cộp cộp lên mặt kính màn hình. Cô Bảy đã đứng sau lưng tôi từ lúc nào.

— Xoá cái nếp đó đi

.

Tôi quay lại phân trần:

— Cháu thấy bác trai gầy quá, làm đầy lên một chút nhìn cho phúc hậu, bà cụ nhìn chắc sẽ mừng hơn...

— Ảnh cưới người ta gò má cao, xương hàm vuông, con thêm thịt vào đó là ra chồng người khác chứ đâu phải chồng bà ấy

.

Giọng cô Bảy lạnh tanh. Ngón tay cô vẫn chỉ thẳng vào vệt sáng tôi vừa bôi thêm:

— Làm ảnh thờ là trả lại đúng người cho người sống họ nhìn, không phải chỗ cho con trổ tài vẽ tranh làm đẹp. Xoá

.

Tôi cắn môi, ấn tổ hợp phím lùi lại thao tác, vệt sáng biến mất, để lại bờ xương hàm góc cạnh y hệt như chàng trai trong bức ảnh cưới nhỏ. Cô Bảy nhìn màn hình thêm vài giây rồi khẽ gật đầu, quay lưng trở về chỗ máy in.

Tôi buông bút vẽ, cầm chiếc khăn bông cũ cẩn thận lau chùi từng góc của chiếc khung gỗ đóng ảnh thờ. Mặt kính ram ráp bụi, rít lại dưới lớp khăn. Tay tôi lau chậm dần. Buổi chiều năm 2012 về lại, cái dạo tôi mới chân ướt chân ráo vào tiệm học nghề.

Hôm đó tôi lơ đễnh chỉnh nhiệt độ máy ép quá cao, tấm ảnh liệt sĩ duy nhất của một bà mẹ trong xóm vừa đưa vào khe cuốn đã cháy xém mất một góc áo trấn thủ. Tôi sợ đến mức chân tay run lẩy bẩy, định bụng lấy tiền túi ra đền. Nhưng cô Bảy không mắng một câu, cô chỉ lẳng lặng tắt máy, cầm tấm ảnh cháy dắt tôi đi bộ gần ba cây số qua mấy con ngõ ngoằn ngoèo đến tận nhà người ta. Tôi phải đứng cúi gập người trước bậc cửa nhà lá, nghe người nhà họ vừa khóc vừa trách móc suốt cả buổi chiều, tự miệng nói lời xin lỗi. Sau lần cúi đầu muối mặt ấy, cô Bảy mới cho tôi ngồi lại vào chiếc bàn chỉnh ảnh này.

Cái giá của một tấm ảnh hỏng không phải là mấy chục nghìn tiền giấy in, mà là phải mang cả mặt mình đến tận cửa nhà người ta mà chịu tội. Tôi thở hắt ra một hơi, tỉ mẩn dùng cọ quét sạch từng hạt bụi bám trong khe khung gỗ.

---

Sáng hôm trả ảnh, tiệm Tân Kỳ đông hơn thường ngày. Bốn người khách đến chụp ảnh thẻ và in tài liệu ngồi kín chiếc ghế băng dài bằng nhựa xanh kê dọc tường.

Bà cụ hôm trước bước vào cửa, hai bàn tay đan chặt vào nhau trước bụng, mắt dán vào mặt quầy, tìm xem tấm ảnh của bà nằm đâu. Tôi vừa cầm tấm ảnh in đã lồng khung kính cẩn thận đưa ra thì cô Bảy từ phía trong bước xăm xăm tới. Cô đỡ lấy khung ảnh từ tay tôi, tự mình đặt lên mặt quầy trước mặt bà cụ, tấm lưng to bè của cô chắn ngang tầm nhìn. Tôi đang định mở miệng giải thích chỗ này dặm lại ra sao, chỗ kia sửa thế nào, đành im.

Tôi đứng lùi lại phía sau lưng cô Bảy, hai ngón tay bóc bóc mảnh nhãn dán còn dính trên xấp giấy in, cho có việc mà làm. Lòng tôi thắt lại, chỉ sợ bà cụ nhìn ra một nét vẽ gượng gạo nào đó trên khuôn mặt người đã khuất.

Bà cụ run run nâng tấm ảnh lên bằng cả hai tay. Bà nhìn thật lâu vào vệt bóng đổ bên má phải, nhìn vào khóe môi hơi nhếch lên quen thuộc, ngón tay cái nhăn nheo miết nhẹ lên mặt kính. Đột nhiên, bà nấc bật lên một tiếng nghẹn ngào giữa không gian đặc quánh mùi mực in.

Bà rút trong túi áo ra ba tờ một trăm nghìn phẳng phiu, đặt xuống mặt kính quầy, tay còn run:

— Đúng ông nhà tôi rồi. Đúng cái khóe miệng này rồi

.

Bà cụ quay phắt người lại phía bốn người khách đang ngồi chờ trên ghế nhựa, cất giọng sang sảng:

— Tôi nói cho mấy bác nghe, con bé này nó làm nghề khéo lắm. Ai trong nhà có ảnh cũ mốc meo cứ mang hết lại đây cho nó làm, việc gì phải tốn tiền chạy xe ra tận ngoài phố to cho người ta chém đẹp

.

Hai người đàn ông ngồi ở đầu ghế băng lập tức đứng bật dậy, bước lại gần quầy ngó nghiêng tấm ảnh thờ trên tay bà cụ rồi quay sang hỏi tôi giá phục chế mấy tấm ảnh bộ đội cũ ở nhà. Tôi thấy rõ ánh mắt họ nhìn mình đã khác, không còn là cái nhìn lướt qua một đứa con gái phụ việc lặt vặt, mà là cái nhìn dành cho một người thợ có nghề.

Cô Bảy không nói nửa lời, thò tay gom ba tờ tiền trên mặt quầy bỏ vào két sắt, tra chìa khóa vào ổ vặn đánh cạch một tiếng dứt khoát. Ba trăm nghìn tiền công nằm gọn trong két, cô không chia cho tôi lấy một đồng lẻ, nhưng trong lồng ngực tôi dâng lên một cái nhẹ nhõm đến run tay.

---

Buổi chiều, nắng xiên qua khe cửa gỗ hắt những vệt vàng sậm lên sàn ximăng. Khách đã về hết, tiệm chỉ còn lại tiếng mô-tơ của máy in chạy rù rù.

Cô Bảy đứng bên cạnh máy in ảnh lớn, tháo cuộn giấy ảnh bóng ra rồi chỉ tay vào cụm đầu phun:

— Từ chiều nay con đứng máy này. Cô giao cho con tự pha màu với căn lề

.

Nói xong, cô Bảy bước lại chiếc ghế quay cũ kỹ, ngồi phịch xuống rồi vỗ vỗ vào bên tay vịn còn nguyên vẹn, hất cằm bảo tôi:

— Lại đây ngồi

.

Tôi bước lại gần, đứng nép bên cạnh ghế. Cô Bảy nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng trầm xuống:

— Làm cái nghề giữ bóng người này, cái gì không dám treo mặt mình lên tường thì đừng có làm

.

Một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng tôi. Tôi vừa hé miệng định kể hết chuyện chiếc điện thoại trong túi, chuyện cuộc gọi của bà Lụa hôm trước để lòng mình được sạch sẽ ở cái nơi duy nhất người ta gọi tôi bằng tên thật, thì cái điện thoại trong túi quần bỗng đổ chuông.

Tôi giật bắn mình, bước lùi hai bước ra sát cửa tiệm, quay lưng về phía cô Bảy rồi bấm nút nghe. Đầu dây bên kia vang lên tiếng còi xe và giọng nói hồ hởi của Trần Đình Minh:

— Em hả? Anh vừa về tới bến xe đợt này rồi. Hôm hai mươi hai em rảnh không, mình ghé lại quán Hương Quê ăn bữa cơm, anh có chuyện này muốn thưa với em cho đúng phép tắc

.

— Dạ... hôm ấy em ghé

.

Tôi đáp lí nhí trong cổ họng rồi vội vã cúp máy. Tôi tự nhủ: tiệm Tân Kỳ là chỗ của Nguyễn Hà Vy, quán Hương Quê là chỗ của cái tên tôi đi mượn. Hai nơi không dính vào nhau thì tôi giữ được cả hai.

Tôi quay người lại. Cô Bảy đang nhìn chằm chằm vào chiếc điện thoại tôi vừa nhét vội vào túi quần. Ánh mắt cô không dò xét, chỉ phẳng lặng như mặt nước giếng khơi.

Cô Bảy giơ tay gỡ mảnh giấy nhớ màu vàng ghi ngày bảo dưỡng dán trên thân máy in xuống. Cô rút cây bút bi cài trên túi áo, gạch đi dòng chữ cũ, viết nắn nót một ngày mới vào đó rồi miết chặt mẩu giấy dán lại vào vị trí ban đầu.

Hết chương 4
Mục lục

Chương 5 — Ba tuần sau

Bản nghe

Nghe tiếp thay vì đọc tiếp

Cả 24 chương đều có tập nghe.

@tram.truyen89