Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 10 phút · 1.904 từ
Mùi khói que hàn khét lẹt xộc thẳng vào mũi tôi, quyện với mùi rỉ sắt ẩm ướt bốc lên từ đống sắt vụn góc xưởng. Ông Bửu ngồi chồm hổm trên cái thùng sơn rỉ sét, kê tờ giấy thếp đôi lên tấm bìa cứng, ngón tay cái sần sùi ấn chặt mép giấy. Ngòi bút bi cào sột soạt trên mặt giấy, phát ra thứ tiếng kêu khiến tôi thấy gai cả sống lưng.
Tôi đứng bên cạnh, tay cầm cây mỏ lết đặt dở trên bàn sắt, lựa lời:
— Bác ghi chuyện họ vác thước dây kéo dọc vỉa hè là được rồi. Đơn của cả dãy phố, gom chuyện con Gạo vào làm gì cho rườm lời ra
.
Ngòi bút của ông Bửu khựng lại, mực ứa ra một chấm đậm. Ông ngẩng lên, hai mắt đỏ hoe vì khói hàn:
— Chú tưởng chuyện cái hè tách rời khỏi chuyện con bé được à?
— Thì cũng là chuyện người ta lăm le mặt bằng
.
— Mặt bằng là một chuyện, người ta tới tận cửa chỉ mặt đòi dắt con nít đi lại là chuyện khác. Hôm đó ông già đeo vòng vàng nói những câu gì, chú nhai lại cho rành rọt coi
.
— Nói linh tinh vài câu chứ có gì đâu bác
.
— Tôi hỏi lại, nó nói cái gì?
Tôi cúi gầm mặt xuống rãnh bàn sắt, đưa cây mỏ lết lên gần mặt.
Mùi dầu luyn cũ trên thân cây mỏ lết này giống hệt mùi dầu mỡ bám trên đôi găng tay bố tôi để lại trong hòm đồ nghề năm tôi mười lăm tuổi. Chiều hôm ấy có người tới xiết nợ cái máy tiện, bố tôi cũng đứng im, hai tay chà xát vào nhau tới mức tróc cả da non mà không thốt ra nổi một tiếng phân bua. Tôi đứng sau khe liếp nứa nhìn ra, chỉ thấy cái lưng còng của ông rũ xuống như tàu lá chuối khô. Cái cảm giác nghẹn ứ nơi cuống họng lúc đó, đến tận sáng nay lại dội ngược về, đắng ngắt.
Tôi cất giọng nhỏ rí:
— Ổng bảo trên giấy tôi không là gì của con bé, con bé là máu mủ nhà ổng, rồi... nó phải về cái nhà ba tầng mặt chợ Cây Gòn
.
— Còn gì nữa không?
— Hết rồi bác
.
— Hết thì để tôi viết
.
Ông Bửu lại cúi gập người xuống, lưng áo công nhân bạc phếch căng ra theo từng nét chữ. Ông viết kín hai mặt giấy thếp, nét mực xanh nắn nót. Đơn gửi uỷ ban phường Bến Dầu, người đứng tên là Bùi Văn Bửu, thợ hàn bậc năm. Đoạn dưới, ông ghi rành rọt việc người lạ tự tiện cầm thước dây đo đạc mặt bằng dãy phố nghề, rồi chèn tiếp chuyện có kẻ lạ mặt tới số nhà 47 đòi dắt đứa nhỏ đi mà không có giấy tờ của chính quyền. Viết xong câu cuối, ông đưa tờ giấy lên trước mặt, đọc thành tiếng từng chữ một rồi gật đầu với chính mình, vẻ mặt chắc nịch như thể con dấu đỏ của phường sắp đóng cộp xuống góc đơn. Tôi đứng nhìn hai trang giấy chi chít chữ, miệng đắng chát, biết là từ giờ chuyện con Gạo chẳng còn giấu nổi trong bốn bức tường tiệm sửa xe nữa.
---
Bốn ngày liền sau đó, con đường Bến Dầu dài chưa đầy năm trăm mét bỗng hoá ra hun hút. Cứ tà tà chiều, lúc vãn khách, ông Bửu lại kẹp tờ đơn vào nách, kéo tôi đi dọc từng mái hiên. Tôi đi sau ông nửa bước, hai chân nặng như đeo chì. Hễ bước tới thềm nhà nào mà thấy chủ tiệm đưa mắt nhìn tờ giấy rồi ngập ngừng, tôi lại lùi dần ra mép hè, đứng chôn chân bên cạnh mấy trụ bơm hay đống lốp xe cũ, để mặc ông Bửu một mình xăm xăm bước vào giải thích.
Bên tiệm bán phụ tùng xe máy, ông chủ tiệm lật lật tờ đơn, ngón tay gõ nhịp trên mặt tủ kính:
— Anh Bửu này, tôi ký vào đây rồi mai mốt đô thị họ xuống rà lại cái mái hiên di động của tôi thì sao?
Ông Bửu gằn giọng:
— Mái hiên của chú nằm trong chỉ giới, sợ cái gì! Giờ không ký, mai mốt họ cắm mốc giải toả trắng cả dãy thì chú bán cho ma à?
— Thì biết là thế, nhưng mà... thôi anh để tôi tính lại, có gì mai tôi ký
.
Nói xong, ông ta quay lưng giật phắt sợi dây xích, kéo cánh cửa sắt trượt rào rào xuống quá nửa, chắn ngang tầm mắt.
Sang đến chỗ vá vỏ số 51, tay thợ đang cầm cây móc lốp dở tay cũng ngẩng lên, nhìn tờ giấy trên tay ông Bửu rồi liếc xéo sang tôi đang đứng xớ rớ ngoài nắng:
— Chỗ tôi kiếm cơm nhờ cái máy bơm hơi đặt sát mép cống này thôi anh Bửu. Ký đơn khiếu nại lên phường, lỡ người ta ngứa mắt bắt dẹp cái máy bơm vào trong nhà thì tôi bốc cám ăn à? Chuyện nhà chú Lực thì chú Lực tự lên phường mà trình bày, lôi cả xóm vào làm gì
.
Tôi đứng trân trân giữa hè. Mấy ông khách đang ngồi trên ghế súp chờ vá vỏ dán mắt vào tờ giấy trên tay ông Bửu, rồi lại nhìn tôi, ánh mắt dò xét, ái ngại hệt như nhìn hai kẻ đi xin tiền dạo. Mặt tôi nóng ran.
Tối mịt ngày thứ tư, gió sông thổi thốc vào hè xưởng hàn rát buốt. Tờ giấy trên tay ông Bửu nhàu nhĩ mép, gom hết cả dãy mới được mười một chữ ký nằm lọt thỏm ở góc dưới trang thứ hai.
Tôi nhìn chòm râu bạc lởm chởm dưới cằm ông, khẽ bảo:
— Thôi bác, đừng đi nữa
.
Ông Bửu nhìn tôi, lồng ngực còn thở dốc sau lớp áo bảo hộ:
— Mới được mười một nhà
.
— Mười một nhà là người ta nể bác lắm rồi. Bác đừng đi muối mặt vì việc nhà tôi nữa
.
Ông Bửu không đáp. Ông nhìn tờ đơn thêm một chốc rồi gấp lại, nhét sâu vào túi áo ngực cài cúc lại. Chiếc mặt nạ hàn màu đen sập xuống che kín mặt ông, tiếng máy biến áp gầm lên một tiếng ngắn, rồi ngọn lửa hàn xanh lét lại loé sáng bừng góc xưởng, hắt bóng lưng ông in gập ghềnh lên bức tường loang lổ.
---
Căn gác xép tối hôm đó ngột ngạt vì hơi nóng từ mái tôn phả xuống chưa kịp tan. Tôi chỉ muốn con Gạo mau mau nhắm mắt ngủ để tôi không phải cất lên một tiếng nào nữa, cái cổ họng tôi sau mấy ngày nghe người ta từ chối đã rát như có gai cào. Nhưng con bé không chịu nằm yên. Nó cầm góc bức tranh tô màu vẽ gia đình, loay hoay miết mép giấy dán lên vách ván ép cạnh chỗ nằm.
Tôi ngước nhìn lên. Chỗ khoảng trắng bên cạnh hình đứa bé hôm nọ, con Gạo đã lấy bút sáp đỏ vẽ thêm một người đàn bà lưng còng, đầu vấn khăn, ngồi ngay ngắn trên cái ghế nhựa dưới gốc cây bàng to tướng.
Nó quay sang tôi, hai bàn tay nhỏ xíu chùi chùi vào ống quần đùi:
— Bố ơi
.
— Gì thế con?
— Mai mốt mình có phải dọn nhà đi chỗ khác không bố?
Tôi sững người, chiếc cờ lê số 14 đang cầm trên tay bỗng nặng trĩu.
— Sao con hỏi thế?
— Bạn Su con bác vá vỏ bảo với con trong lớp là nhà mình sắp bị người ta đo lấy lại rồi, bố con mình sắp phải đi chỗ khác
.
Ruột gan tôi thắt lại từng khúc. Chuyện ngoài vỉa hè, chuyện người lớn tính toan đẩy qua đẩy lại mấy bữa nay, hoá ra đã lọt qua cánh cổng trường tiểu học rồi chui tọt vào tận bàn học của con bé. Con Gạo vẫn trân trân nhìn chiếc cờ lê đang sáng loáng trong tay tôi, đôi mắt trong veo không chớp.
Tôi nuốt khan một cái, giọng cứng đờ:
— Không có đâu. Bố còn ở đây thì không ai dọn đi đâu hết
.
Con bé nhìn tôi một thoáng rồi không hỏi thêm câu nào nữa. Nó giơ ngón tay ngắn củn, ấn mạnh lại góc băng dính cho bức tranh dính chặt thêm vào vách gỗ, nơi hình vẽ bà Cúc ngồi lặng lẽ dưới bóng cây bàng đỏ quạch màu sáp.
---
Chiều thứ năm, nắng xiên khoai hắt vào mái bạt quán nước trước cửa tiệm số 47. Trên mặt bàn gỗ tạp loang lổ vết nước chè, góc tờ đơn của ông Bửu bị gió thổi lật phần phật, kẹp dưới đáy chiếc gạt tàn thuốc bằng thuỷ tinh dày cộp. Chắc lúc trưa ông Bửu ghé uống chén nước chè rồi đãng trí bỏ quên lại.
Tôi bước vội ra, toan với tay giật tờ giấy cất đi trước khi có người qua đường tò mò nhòm ngó.
— Bỏ cái tay mày ra!
Bà Cúc đập mạnh cái quạt nan xuống bàn, quát giật giọng. Bà rút cặp kính lão gọng đồi mồi giắt ở túi áo bà ba, gài lên tai rồi kéo tờ giấy lại sát mép bàn. Tôi rụt tay lại, lúng túng ngồi thụp xuống chiếc ghế nhựa thấp tè, mắt chỉ dám dán vào vũng dầu máy đen ngòm đang đọng lại bên mép cầu nâng xe. Người trong cái phố này tốt bụng, ai cũng thương hai bố con tôi gà trống nuôi con, nhưng để đặt bút ký tên vào một tờ giấy lôi thôi liên quan đến chính quyền thì chẳng ai dại gì chìa lưng ra gánh nạn giùm người khác.
Bà Cúc không nói thêm nửa lời. Ngón tay trỏ khẳng khiu, móng tay ngả màu vàng vì bóc vỏ cau của bà chầm chậm lần từng chữ một trên mặt giấy.
— Một... hai... ba...
Bà đếm từng chữ ký, đầu ngón tay ấn mạnh lên mặt giấy đến mức để lại những vết hằn lõm. Đếm xong chữ thứ mười một, đôi môi mỏng dính của bà mấp máy đọc rầm rì tên từng người. Cứ đọc xong tên một người, ánh mắt sau tròng kính lão lại ngước lên, bắn thẳng sang cánh cửa của ngôi nhà tương ứng bên kia đường. Bà nhìn qua tiệm phụ tùng đang đóng hờ cửa sắt, liếc sang đống lốp xe của quán vá vỏ, rồi dừng lại thật lâu ở cái bảng hiệu nhôm sáng choang của tiệm đồ điện đầu ngõ.
Đọc hết một lượt, bà Cúc tháo kính lão, gấp đôi tờ đơn lại thật phẳng phiu rồi ấn mạnh vào lòng bàn tay tôi.
Bà chống hai tay lên đầu gối, còng lưng đứng dậy. Không thèm ngó lại tôi lấy một cái, bà bước tới gốc cây bàng, nắm lấy lưng chiếc ghế nhựa màu đỏ thứ hai vốn vẫn để trống dưới gốc cây, kéo lê trên nền xi măng nghe một tiếng
— rột
chói tai.