Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 12 phút · 2.416 từ
Tiếng thước dây bằng kim loại bật ra rồi thu lại nghe
— sạch, sạch
vang lên giữa khoảng sân gạch tàu đỏ quạch. Cây khế già góc sân đang mùa trút lá, vài ba lá vàng khô rụng xuống chạm vào thân thước phẳng đét chị Diệu đang kéo thẳng từ chân cổng sắt vào đến tận ngưỡng cửa gian phòng ngủ.
Tôi đứng nép bên chái hiên, lưng tựa nhẹ vào tường vôi cũ còn chưa kịp quét lại, mắt dán chặt vào từng vạch chia milimet trên mặt thước. Một nhát kéo, hai nhát kéo. Tôi hít một hơi thật sâu rồi nín chặt lại, chắp hai tay sau thắt lưng để giấu đi sự bồn chồn. Trong cái tĩnh lặng của buổi sáng xóm Gò Sến, tôi bỗng nhớ đến ông Thạch. Toà tuyên án xong đã nửa tháng, mảnh giấy thông báo án có hiệu lực vừa gửi về tận tay hôm qua. Ông ấy không nộp đơn kháng cáo. Tôi hiểu cái sự im lặng đó. Kháng cáo nghĩa là phải xới tung lại từng chi tiết, là để cho cái chuyện rạng sáng hôm nào với cái giỏ nhựa đỏ trước cửa tiệm số 47 lại bị người ta lôi ra đọc công khai giữa toà thêm một lần nữa. Ông ấy chọn lùi lại, còn tôi thì phải tiến lên.
Chị Diệu vén tấm màn che gian trong, nhìn chiếc giường gỗ nhỏ kê sát góc tường, nơi mấy gấu bông cũ xếp gọn gàng. Gian trong ấy từ nay là phòng riêng của con bé, cái phòng nó hỏi tôi trong đêm ở nhà bà Cúc mà hôm ấy tôi không trả lời được. Đoạn, chị quay ra gian trước, đứng trước thùng đồ nghề bằng gỗ đinh hương của tôi. Chị dùng ngón tay gõ gõ vào nắp thùng, mắt lướt qua góc nhà xem có can xăng hay chai dầu luyn nào để bừa bãi không. Gian nhà cấp bốn này tôi mua bằng tiền vay ngân hàng với tiền cả dãy phố góp lại, đường đi lối lại hoàn toàn riêng biệt, chẳng chung đụng với bất kỳ chỗ chứa nhiên liệu nào của tiệm cơ khí cũ cách đây hai cây số. Nhưng cái nghề thợ máy dính dớp dầu mỡ bao năm qua cứ ám vào người, làm tôi lúc nào cũng nơm nớp sợ chỉ một sơ suất nhỏ thôi là hồ sơ lại bị gạt ra.
Gạo ngồi bệt ở bậc cửa xi măng, hai tay ôm lấy gối, ánh mắt trong veo dõi theo từng nhịp di chuyển của người cán bộ thụ lý. Chị Diệu không nói một câu thừa, mặt lạnh như tiền. Chị rút bút mực xanh ra khỏi túi, đặt tờ phiếu kiểm tra lên mặt thùng đồ nghề rồi ghi nhanh vài chữ. Chị gấp hồ sơ lại, ngước lên nhìn tôi bằng ánh mắt nghiêm nghị rồi lên tiếng:
— Lối đi đạt. Chỗ ở riêng biệt, đủ điều kiện an toàn cho trẻ em. Tôi ký xác nhận đạt buổi thẩm định hôm nay. Anh chuẩn bị giấy tờ tuần sau sang bên ủy ban phường
.
Tiếng sập của chiếc cặp tài liệu da vang lên như tiếng một chiếc khoá gỉ sét lâu năm vừa được tra dầu và bật mở. Chị Diệu quay lưng bước ra cổng. Tôi đứng lại giữa khoảng sân gạch, nhìn tấm lưng chị khuất dần sau lùm cây khế, trong lòng dâng lên một câu hỏi nhức nhối: Căn nhà đã đứng tên mình rồi, nhưng liệu trên mảnh giấy tờ quan trọng nhất đời con bé, cái ô dành cho người cha có được ghi tên Trần Văn Lực này hay không?
---
Mười mấy ngày sau, cái oi nồng của buổi trưa đứng gió bao trùm lấy phòng tư pháp, hộ tịch của Ủy ban nhân dân phường Bến Dầu. Tiếng quạt trần quay
— rè rè
trên trần nhà cao rỗng không xua nổi cái nóng hầm hập.
Chị Diệu ngồi đằng sau bàn làm việc, lật từng trang hồ sơ. Đến mục đính chính ngày sinh của con bé, tay chị dừng lại. Chị ngẩng đầu nhìn thẳng vào tôi, giọng đều đều nhưng kiên quyết:
— Ngày sinh trong sổ tạm trú cũ và tờ khai ban đầu lệch với ngày anh đề nghị đính chính. Muốn sửa lại ngày sinh cho đứa trẻ, phải có căn cứ rõ ràng bằng văn bản chứ không nói miệng được
.
Tôi nghe như có cục đờm nghẹn ngang cổ. Luật sư Toại ngồi bên cạnh tôi không đáp lời ngay. Anh chậm rãi mở cặp, lấy ra bản án đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân, lật chính xác đến trang có ghi lời khai chi tiết của người đỡ đẻ. Anh Toại dùng hai ngón tay miết nhẹ lên dòng chữ đã được gạch chân rồi đẩy bản án về phía chị Diệu, đặt gọn gàng ngay trước mặt chị.
Chị Diệu đeo kính, cúi xuống đối chiếu từng dòng chữ trong bản án với tờ khai trên bàn. Ngay lúc chị đọc tới dòng chữ ghi rõ tên họ Trần Văn Lực ở phần chỉ định người giám hộ, sống mũi tôi xộc lên một vị cay xè. Tôi đưa tay hỉ mũi một cái rõ mạnh, rồi theo thói quen dùng mu bàn tay quệt ngang mặt. Vết mỡ máy đen xì từ tay dính thẳng lên má. Tôi lặng lẽ đứng dậy, đi ra phía vòi nước máy ở góc hành lang ngoài phòng chờ. Tôi mở vòi, xoa xà phòng rồi chà xát hai bàn tay vào nhau thật mạnh, rửa đi rửa lại dưới dòng nước mát lạnh cho đến khi da tay đỏ rát mới chịu dừng.
Lúc tôi quay lại, chị Diệu đã rút tờ phiếu trả hồ sơ năm 2022 nằm trong ngăn kéo ra. Chị đọc lướt qua một lượt rồi kẹp nó vào xấp tài liệu cũ, cất gọn vào tủ sắt. Mấy người dân đang ngồi chờ làm thủ tục ở dãy ghế nhựa phía sau quay đầu lại nhìn. Ngay bàn tiếp nhận, Gạo đang kiễng chân, hai bàn tay bấu chặt vào mép bàn gỗ, cất giọng đọc chậm rãi từng chữ một trên tờ giấy vừa được in ra:
— Trần... Văn... Lực... Bố...
Cầm quyển sổ khai sinh mới tinh cùng tờ quyết định công nhận việc nuôi con nuôi ra khỏi cửa ủy ban, tay tôi run run. Tôi đã chính thức trở thành cha của con bé trên mặt giấy tờ, ngày sinh của nó cũng đã được trả về đúng cái ngày mẹ nó dứt ruột đẻ nó ra. Nhưng niềm vui ấy cứ nghẹn lại ở lồng ngực, khi tôi biết người mẹ tội nghiệp ấy hiện vẫn đang nằm im lìm dưới một tấm bia xi măng lạnh ngắt chỉ vỏn vẹn những con số vô danh.
---
Khu nghĩa trang nhân dân thành phố nằm hun hút ở vùng ven, ngập tràn nắng gió và tiếng thông reo rền rĩ. Những dãy mộ vô danh nằm san sát nhau, lối đi hẹp chỉ vừa một người bước. Các tấm bia xi măng xám xịt, vuông vức giống hệt nhau, nhiều tấm đã bị rêu xanh phủ kín làm mờ hết những dãy số đục nông.
— Số 1402... 1402 nằm ở hàng thứ tư tính từ cây đại này sang
, chị Tươi vừa đi vừa cúi đầu nhìn chăm chăm vào tờ giấy chép số từ sổ quản lý của ban nghĩa trang.
Ông Bửu đi phía sau, tay cầm chiếc bàn chải sắt và cái đục nhỏ. Cứ tới mỗi tấm bia bị rêu bám, ông lại cúi xuống, cẩn thận dùng đầu bàn chải cạo sạch lớp rêu phong để lộ ra những con số bên dưới. Tôi bước từng bước dè dặt, mắt không rời tờ giấy trên tay. Cứ mỗi lần ông Bửu cạo xong một tấm bia và đọc to con số, tôi lại giơ tờ giấy lên đối chiếu lại từng chữ số một. Tôi sợ. Tôi sợ chỉ một phút lơ đễnh thôi là mình sẽ dựng nhầm tấm bia cho người khác, để Lài lại phải nằm dưới một con số của người khác.
Chị Tươi khựng lại trước một ngôi mộ ở giữa hàng. Chị chậm rãi quỳ xuống trên lớp cỏ may xơ xác, đưa bàn tay gầy gò sờ lên những chữ số khắc sâu trên mặt xi măng. Chị ngồi đó rất lâu, không khóc, không than. Rồi chị rút chiếc ví cầm tay đã sờn mép ra, mở ngăn nhỏ bên trong. Ngăn ấy giờ trống trơn, không còn tấm ảnh nào để rút ra. Chị lặng lẽ nhìn vào đó một nhịp, rồi bấm khuy ví, gập lại cẩn thận.
Hai ngày sau, ngôi mộ mới đã hoàn thành. Tấm bia đá hoa cương đen bóng khắc rõ dòng chữ
— Nguyễn Thị Lài
, bên trên gắn tấm ảnh chân dung được phóng to từ tấm ảnh thẻ góc còn nguyên vết kẹp ghim cũ. Phần khung sắt bảo vệ xung quanh do ông Bửu tự tay hàn rồi mang lên lắp đặt, nhất quyết không chịu lấy một đồng tiền công.
Nằm dưới lớp đất sâu này, Lài đã có một cái tên hoàn chỉnh, có một gương mặt để người đời nhớ đến. Chị Tươi trút được gánh nặng đè nén trong lòng suốt bấy lâu nay. Còn tôi, tôi nhìn làn khói hương bay nghi ngút vào khoảng trống không của bầu trời, nhẩm tính ngày giỗ đầu của cô ấy cũng chính là ngày con bé Gạo tròn bảy tuổi.
---
Sân gạch nhà cấp bốn xóm Gò Sến rợp bóng mát của cây khế già. Mái tôn mới lợp lại tỏa ra mùi nhựa mới, đường dây điện mới kéo chạy dọc theo xà gồ phẳng tắp. Ngay trước cổng, tấm biển tôn sơn chữ đỏ
— SỬA XE LỰC
được gỡ từ cửa tiệm cũ đường Bến Dầu đã được tôi dựng lại chắc chắn, dù chữ
— LỰC
bị bong mất một nét sơn bên hông.
Gian trước nhà kê chiếc thùng đồ nghề bằng gỗ đinh hương, trên nắp thùng vẫn còn nguyên những đường khắc chữ
— LỰC
bằng mũi vạch dấu kim loại sắc lẹm. Từ sớm, hai người khách quen cũ từ hồi còn ở đường Bến Dầu đã đạp xe hơn hai cây số tìm đến tận đây để gửi xe sửa, tiếng búa gõ
— chát, chát
trên vành xe vang lên nghe vui tai đến lạ.
Mâm cơm cúng giỗ đầu đặt ngay giữa sân gạch tàu, dưới vòm lá khế. Bà Xoan cẩn thận bày từng đĩa xôi, đĩa gà luộc; chị Tươi nhanh tay xếp đũa xếp chén; ông Bửu đứng trước bàn thờ nhỏ châm từng nén hương thơm; còn bà Cúc thì ngồi xổm bên mâm, phe phẩy cái quạt nan đuổi ruồi. Anh luật sư Toại đến muộn hơn một chút, tay cầm chiếc phong bì tài liệu trao lại cho tôi bản gốc của mảnh giấy ô ly và tấm thiệp chúc mừng năm nào.
Giữa lúc mâm cơm chuẩn bị hoàn tất, tiếng xe máy nổ
— tạch tạch
dừng lại ngay trước cổng sắt. Một người đàn ông mặc áo khoác xám, mũ bảo hiểm che kín mặt, không bước xuống xe mà chỉ thò tay qua khe cổng, thả một chiếc phong bì dày có đóng dấu đỏ của tiệm vàng Kim Thạch xuống đất rồi nhấn ga chạy biến mất hút sau cua rẽ xóm Gò Sến.
Gạo đang tung tăng chơi ở góc sân liền lon ton chạy ra. Con bé cúi xuống nhặt chiếc phong bì lên, xoe tròn đôi mắt ngơ ngác mang đến trước mặt tôi:
— Bố ơi, cái gì đây bố? Người ta gửi cho bố à?
Tôi nhìn chiếc phong bì dán kín tem niêm phong nằm gọn trong bàn tay nhỏ nhắn của con. Lồng ngực tôi thắt lại, nhưng gương mặt vẫn giữ nguyên sự điềm tĩnh. Tay tôi cầm lấy chiếc phong bì, giữ cho các ngón tay đứng yên không run rẩy. Tôi nhìn thẳng vào mắt con bé, cất giọng trầm thấp:
— Bố cũng không biết nữa con
.
Tôi nói thật lòng. Tôi không biết, và cũng không cần phải biết bên trong đó chứa đựng những gì nữa. Tôi đút chiếc phong bì vào túi, rồi dắt tay con bé đi vào gian nhà trong. Trên bàn học của Gạo có bức vẽ gia đình con bé tự vẽ bằng màu sáp hôm nọ, nơi có hình tôi, hình con bé, và một khoảng trống tô màu xanh da trời ở giữa. Tôi cầm cây bút chì lên, cẩn thận viết vào khoảng trống ấy ba chữ: Nguyễn Thị Lài.
— Mẹ con tên là Nguyễn Thị Lài
, tôi khẽ nói khi đặt cây bút xuống.
— Mẹ mất khi sinh con ra, và tên mẹ đây rồi
.
Con bé nhìn dòng chữ viết tay của tôi trên bức vẽ, gật đầu thật mạnh rồi mỉm cười.
Tôi đi đến bên chiếc tủ gỗ đặt ở góc nhà, lấy chiếc hộp thiếc cũ ra. Bên trong chiếc hộp lúc này đã xếp gọn gàng mảnh giấy ô ly với những dòng chữ nguệch ngoạc, tấm thiệp cũ, trang sổ ghi nợ có tên Nguyễn Thị Lài, tấm ảnh thẻ góc kẹp ghim, và chiếc phong bì còn dán kín vừa nhận ngoài cổng. Tôi đậy nắp hộp thiếc lại, đặt nó lên nóc tủ cao, nằm ngay ngắn bên cạnh chiếc giỏ nhựa đỏ đựng mấy món đồ chơi nhựa của con bé ngày trước.
Kiểm tra lại số tiền còn lại trong túi, tôi còn đúng một triệu rưỡi tiền mặt, một khoản vay ngân hàng kéo dài hai mươi năm và sáu mươi triệu tiền nợ anh em bà con dãy phố. Những con số ấy nặng trịch, nhưng nó là nền đất chắc chắn dưới chân tôi.
Tôi bước ra lại khoảng sân gạch. Nắng trưa rọi qua kẽ lá khế, chiếu xuống những viên gạch đỏ thắm. Phần việc cần làm, tôi đã làm xong trọn vẹn. Còn những thứ chưa thể gọi thành tên, tôi sẽ để nguyên nó nằm yên trong chiếc hộp thiếc đó, cho đến ngày con bé đủ lớn để tự tay mở ra.