Bố Về Đúng Ngày Giỗ
Đăng nhập
Chương 4 / 24

Người đầu tiên gọi đúng tên bố

Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 9 phút · 1.856 từ

Bố Về Đúng Ngày Giỗ — chương 4 — Người đầu tiên gọi đúng tên bố

Đá lạnh lạo xạo va vào thành cốc thủy tinh dày cộp. Mặt cốc phủ một lớp hơi mờ đục. Bố kéo lê chiếc ghế nhựa đỏ lùi sâu vào góc tường rêu, mặt quay hẳn ra mé rãnh nước thải phía sau quán, đầu cúi gằm xuống gần sát miệng cốc trà đá. Bảy tám người đàn ông trong xóm đang ngồi vắt chân hút thuốc lào bỗng nhiên ngưng bặt tiếng bàn tán. Mấy cái nhìn lấm lét chuyền qua chuyền lại giữa làn khói thuốc mù mịt, rồi họ lẳng lặng quay đi, dịch ghế ra xa như thể sợ chạm phải bóng người đàn ông nhà đã làm giỗ ba năm trước. Chị chủ quán vừa đặt mạnh hai cốc nước xuống mặt bàn gỗ cáu bẩn, không nói một lời, quẹt vội bàn tay dính mỡ vào tạp dề rồi quay ngoắt vào gian bếp tối om. Người ta coi bố như một kẻ lạ, ở đâu trôi tới ngồi nhờ dưới mái hiên.

Bố chống hai bàn tay xương xẩu xuống đầu gối, gân xanh nổi chằng chịt, người gượng lên định đứng dậy.

— Thôi, con đi một mình đi. Bố về

.

Tôi vội giữ lấy cổ tay bố, ngón tay ấn vào vết sẹo lồi xám xịt chạy dọc thớ thịt khô quắt. Tay kia của tôi siết chặt lấy quai chiếc cặp hồ sơ sờn góc đang đặt trên đùi, mắt cố dán ra khoảng đường nhựa nắng chang chang dù chẳng có bóng dáng chiếc xe máy nào chạy tới.

— Bố ngồi yên đây, xe ôm sắp tới đón rồi. Lên thị trấn chụp cái ảnh thẻ rồi về liền

.

— Người ta nhìn

.

— Kệ người ta, mình có trộm cắp của ai đâu mà sợ

.

— Bố không quen chỗ đông

.

— Bố phải tập cho quen, mai mốt còn bao nhiêu việc

.

Bố lắc đầu, lưng còng gập xuống, người nhổm lên được nửa chừng thì từ ngoài mé đường cái bỗng có tiếng gọi với vào:

— Lượm! Ông Lượm phải không!

Cả quán nước đồng loạt quay đầu nhìn ra đường.

---

Bà Sáu Tím một tay chống cây gậy tre mòn vẹt đầu, một tay nách đứa cháu ngoại chừng hai tuổi, chống gậy đi xăm xăm qua vạt nắng chói chang xộc thẳng vào quán. Chiếc bóng gầy còm của bà đổ dài trên nền xi măng nứt toác. Mấy người đàn ông ngồi bàn ngoài vội vàng co chân nhường lối. Bà Sáu Tím không thèm ngó nghiêng ai, bước tới trước mặt bố, ném phịch cây gậy tre xuống nền xi măng rồi ngồi thụp xuống chiếc ghế đối diện.

Đứa bé trên tay bà giật mình mếu máo, bà liền dúi vào tay nó cái kẹo cao su bọc giấy bạc rồi trừng mắt nhìn thẳng vào khuôn mặt hốc hác của bố. Bố co rúm người lại, hai vai rụt xuống, tay xoay tròn cốc nước chè lạnh ngắt trên bàn, miệng ho húng hắng mấy tiếng.

— Ông về bằng cái gì?

Giọng bà Sáu rít qua kẽ răng, khô khốc.

— Về từ bao giờ?

Bố lí nhí trong cổ họng, mắt vẫn nhìn trân trân xuống vũng nước đọng dưới chân cốc.

— Tôi... tôi đi nhờ tàu bạn

.

— Tàu nào? Ai cho về mà về? Rồi thằng Chín nhà tôi đâu? Ông có gặp nó trong đó không?

Bà hỏi dồn dập, từng câu từng chữ ném ra chan chát khiến mấy người ngồi bàn bên cạnh vô thức dỏng tai lên, một bác thợ hồ lẳng lặng xếp mấy chiếc cốc không sang một bên để nghe ngóng. Tôi cắn chặt môi dưới, ruột gan tôi thắt lại. Tôi sợ cái tính cộc lốc, nhát gừng của bố lại làm người ta nghi ngờ như tối hôm qua. Tôi vội kéo ghế xích lại gần, đưa tay tháo cặp kính cận ra lau vào vạt áo, lau đi lau lại đến ba bốn lần để giấu đôi tay đang run.

— Bố kể cho bà Sáu nghe đi

, tôi khẽ giục, giọng run rẩy.

— Chú Chín trong đó ra sao, bố nói cho bà biết

.

Mùi mồ hôi chua nồng bốc ra từ manh áo sờn vai của bố sực vào mũi tôi, gợi lại cái trưa hè nhiều năm trước khi tôi vừa thi trượt đại học lần đầu. Hôm ấy bố cũng ngồi bên bậu cửa xoa đôi bàn tay thô ráp đầy vết cứa của dây cước, chẳng nói câu an ủi nào, chỉ lẳng lặng bưng ra cho tôi bát cháo nghêu nóng hổi nấu với thật nhiều hành hoa. Đôi bàn tay cả đời kéo lưới, vụng về, chẳng biết nói gì.

Bố hít một hơi sâu, ngẩng đầu lên nhìn vào đôi mắt đỏ hoe, chằng chịt tia máu của bà Sáu Tím.

— Thằng Chín... nó còn sống

.

Bà Sáu Tím nghẹn thở, bàn tay đang ôm đứa cháu bỗng bấu chặt lấy mép áo nó.

— Nó ở đâu? Nó có bị làm sao không?

— Nó còn sống. Nhưng tai bên phải của nó điếc hẳn rồi

. Bố nói chậm, nói xong lại ngừng.

— Nói chuyện là nó phải nghiêng hẳn cái đầu sang một bên mới nghe được. Lúc tôi trốn đi, nó còn ngoái đầu lại nhìn theo... Nó bảo ráng mà về

.

Bà Sáu Tím buông thõng hai vai, khóe mắt giật giật, bàn tay run rẩy đưa lên bụm chặt lấy miệng để ngăn tiếng nấc bật ra.

---

— Bố con tôi tính sáng mai lên đồn biên phòng Cửa Mòi trình báo sự việc

, tôi vội tiếp lời.

— Con muốn nhờ bà đi cùng hai bố con, có người làng đi cùng thì các chú ấy mới tin lời bố con khai

.

Bố xua tay, mắt nhìn ra đường.

— Thôi, việc của tôi để tôi tự lo, phiền bà con lối xóm làm chi

.

Nói xong, bố đẩy mạnh chiếc ghế nhựa, đứng bật dậy bước thẳng ra mép hiên quán, đứng quay lưng lại với mọi người. Hai bàn tay bố cứ nắm chặt vào rồi lại xòe ra, các khớp ngón tay kêu răng rắc. Tôi đứng phắt dậy theo, hai tay ôm ghì lấy cặp hồ sơ trước ngực, mắt nhìn chăm chú vào bà Sáu Tím, nín thở chờ đợi một câu trả lời. Tôi sợ bố lại tự tay gạt phăng đi cái chỗ nhờ vả duy nhất mà hai bố con vừa có được.

Bà Sáu Tím không nhìn theo bóng lưng của bố. Bà chống gậy, khó nhọc đứng lên rồi bước từng bước nặng nề ra giữa khoảng sân râm mát của quán nước. Mấy người đàn ông đang ngồi uống trà đều đặt cốc xuống, có người hơi cúi mặt tránh ánh mắt của bà, có người khẽ gật đầu chào. Người trong xóm này ai mà chẳng biết ba năm nay bà sống thui thủi thế nào.

Bà đứng sừng sững giữa sân, hắng giọng nói lớn, giọng bà vang khắp quán:

— Tôi nói cho cả cái xóm Cồn này nghe. Ba năm nay, tiền bảo hiểm tai nạn phần hai của thằng Chín gửi về ủy ban, tôi không thèm động tới một đồng một cắc nào hết. Người ta bảo tôi gàn dở, bảo tôi ôm đống giấy báo tử mà mơ mộng hão huyền. Nhưng linh tính người làm vợ làm mẹ không bao giờ sai. Tôi chưa bao giờ coi chồng tôi là người chết!

Bà quay sang nhìn tôi, ánh mắt nhìn tôi không chớp.

— Sáng mai tao đi với bố con mày lên đồn Cửa Mòi. Tao sẽ qua xóm Lưới gọi thêm bốn bà nữa đi cùng. Chồng con tụi nó đi cùng chuyến tàu đó, sống phải thấy người, chết phải thấy xác, không đứa nào được phép trốn tránh!

Dứt lời, bà Sáu Tím lại lẳng lặng ngồi xuống chiếc ghế đẩu cạnh quầy, run run mở chiếc túi vải nhỏ giắt bên hông lấy ra lá trầu không với miếng cau khô. Bà têm trầu chậm rãi, kỹ lưỡng, têm xong thì nắm chặt trong lòng bàn tay chứ không ăn, rồi bà bế xốc đứa cháu ngoại lên hông, chống gậy cắm cúi đi về phía chợ.

---

Gần trưa, nắng gắt xuống con ngõ hẹp ngoằn ngoèo của xóm Cồn. Hai bố con tôi vừa đi chụp ảnh thẻ từ thị trấn trở về, người ướt đẫm mồ hôi. Vừa rẽ vào khúc cua dẫn tới chiếc cổng sắt sơn xanh tróc lở của nhà mình, tôi bỗng khựng lại.

Bà Mót đang gánh đôi thúng cá đi ngược chiều, thấy bóng hai bố con tôi liền hạ gánh xuống đất, hai chiếc thúng tanh nồng chắn ngang lối đi duy nhất. Bố tôi khựng bước, vội vàng lùi sát người vào bức tường phủ đầy rêu xanh của nhà hàng xóm, đầu hơi cúi xuống.

Tim tôi thắt lại, bàn tay vô thức vuốt dọc mép chiếc cặp hồ sơ. Tôi tưởng bà Mót đứng chặn đường để đòi một triệu hai tiền mâm cỗ giỗ hôm trước mà tôi còn thiếu, trong đầu vội vàng sắp xếp từng câu từng chữ để xin khất thêm vài bữa nữa.

Bà Mót đưa tay kéo sụp vành nón lá rách mép xuống che khuất nửa khuôn mặt sạm đen vì nắng gió. Bà không nhìn thẳng vào tôi mà mắt cứ nhìn lảng xuống chỗ nước tanh đọng dưới đáy thúng cá, giọng the thé, nói nhanh, nghe mất chữ:

— Bà Sáu Tím vừa ghé qua chỗ tôi bến cá. Bà ấy bảo mai lên đồn biên phòng trình báo chuyện mấy người trên tàu

.

Tôi sững người, ngực phập phồng thở dốc, vội đưa tay vuốt mồ hôi trên mặt.

— Bác Mót... bác tính sao?

Bà Mót quệt ngang giọt mồ hôi trên trán, giọng cộc lốc:

— Thì bà Sáu đã kêu rồi thì tôi đi theo xem sao. Chứ ở nhà ngóng mãi cũng phát điên

.

Nói xong, bà ghé vai vào đòn gánh, nhấc đôi thúng cá lên rồi bước nhanh qua mặt hai bố con tôi, không ngoái lại lấy một lần. Phía bên kia đường, cánh cổng sắt của một nhà hàng xóm hé mở một khe nhỏ, có người đứng nhìn ra.

Tôi bước nhanh vào trong sân nhà, cài chặt then cổng sắt xanh lại. Ngồi thụp xuống chiếc ghế gỗ ở hiên, tôi cẩn thận mở khóa kéo cặp hồ sơ, lấy tờ lịch cũ chép sáu cái tên bằng nét chữ nguệch ngoạc, kẹp vào tệp đơn trình báo vừa xin được trên thị trấn. Chiều nay tôi phải nhắn tin cho tổ trưởng xin nghỉ làm nửa ngày mai.

Tôi ngồi đó một lúc, tay ôm chặt chiếc cặp hồ sơ sờn góc trước ngực. Có bà Sáu Tím, có cả bà Mót đi cùng, mai này lên đồn biên phòng Cửa Mòi, lần này các chú ấy chắc không gạt lá đơn của bố con tôi sang một bên.

Hết chương 4
Mục lục

Chương 5 — Năm cái tên đọc to ở phòng tiếp dân

Bản nghe

Nghe tiếp thay vì đọc tiếp

Cả 24 chương đều có tập nghe.

@tram.truyen89