Bố Về Đúng Ngày Giỗ
Đăng nhập
Chương 18 / 24

Năm Giờ Sáng Và Cái Kho Băng

Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 12 phút · 2.444 từ

Bố Về Đúng Ngày Giỗ — chương 18 — Năm Giờ Sáng Và Cái Kho Băng

Tiếng chuông điện thoại đổ dồn giữa lúc trời còn đặc sệt một màu đen kịt. Tôi giật mình chồm dậy khỏi phản, đầu ngón tay luống cuống quẹt ngang màn hình rạn mép. Đầu dây bên kia không có tiếng người, chỉ có tiếng gõ bàn phím lách tách trên nền một đường truyền xa lắc, nghe lạo xạo như người ta rang cát trong chảo gang.

— Alô, chị Sương phải không? Bên tôi trời vừa sáng. Tôi đọc danh sách đối chiếu trước, chị nghe rõ từng cặp tên

.

Giọng anh Hiếu đều đều, lạnh tanh như tiếng người ta đọc cáo thị ở loa uỷ ban. Tôi cắn chặt môi dưới, không dám hít mạnh, sợ tiếng thở của chính mình làm át mất một chữ. Mắt kính mờ đặc hơi sương sớm, tôi tháo ra chùi vào vạt áo tới ba bốn lần rồi lại tròng lên sống mũi. Tôi ép chặt cái vỏ nhựa nóng ran vào vành tai bên kia.

Anh đọc từng cặp, tên thật trước, tên trên giấy sau, đúng năm cặp thiếu tá Định đã đọc ở đồn. Cặp cuối cùng anh đọc chậm hơn:

— Ông Lê Văn Hoành, giấy tờ mang tên Trần Văn Sang

.

— Năm người... còn đủ cả không anh?

Hơi thở tôi nghẹn lại ngay cuống họng. Dưới chân tường, bố tôi đang ngủ ngồi dựa lưng vào vách vôi cũng mở choàng mắt ra. Nghe tới cái tên ông Hoành, mắt bố giật một cái, ông khom người xuống nhặt cái đóm tre rơi dưới nền gạch tàu, rồi cứ thế giữ nguyên tư thế gập lưng, không cựa quậy thêm một phân nào.

— Còn. Nhưng trường hợp ông Hoành xấu nhất. Ông ấy ho ra máu từ tháng trước, trại giam bên này đã chuyển xuống trạm xá của hạt. Tôi nhắc lại, ông ấy nằm ở trạm xá

.

— Vậy nhà tôi gửi tiền sang mua thuốc cho bác ấy được không anh? Hay con cái bên này làm giấy bảo lãnh gửi qua?

— Không được

. Giọng anh Hiếu ngắt ngang, dứt khoát như chặt một khúc củi.

— Chị không hiểu nguyên tắc bên này rồi. Hồ sơ lưu trú, lệnh tạm giam, bệnh án dưới trạm xá đều đứng cái tên mượn Trần Văn Sang. Ông ấy không ký được bất cứ giấy tờ nào theo tên Lê Văn Hoành. Thuốc men, tiền nong gửi qua theo tên thật sẽ bị trả về ngay cửa khẩu bưu điện vì không khớp nhân thân. Trên mặt giấy tờ hiện tại, người nhà ở xóm Lưới không có tư cách gì hết

.

— Sao lại không có tư cách? Người thật bằng xương bằng thịt đang nằm đó mà anh!

Tôi hỏi dồn luôn câu bà Sáu Tím nhờ, giấy tờ gốc của chồng bà còn giữ bên nhà thì có giúp được gì không. Anh Hiếu bảo có. Muốn trả lại tên thật cho một người thì phải đủ ba thứ: cán bộ lãnh sự đối chiếu mặt người ấy với ảnh chụp lúc bị bắt, một người thân nhận mặt, và một giấy tờ gốc bên nhà. Anh dặn bà Sáu Tím giữ kỹ, đừng đưa cho ai mượn.

— Đường truyền bên chị đang rè quá, tôi xin lỗi, tôi phải nói nhanh cho hết phần việc

. Đầu dây bên kia tăng tốc độ, tiếng lật giấy sàn sạt đè bẹp sự sốt ruột của tôi.

— Về phía Lãnh sự, chúng tôi đã gửi rất nhiều văn bản về nước yêu cầu xác minh để làm thủ tục trả lời toà. Tôi đọc số hiệu, chị ghi lại: công văn số một một tư gạch chéo LS, gửi mùa thu năm tàu bị bắt, rồi số hai linh tám, gần nhất là số không chín, đầu năm sau. Toàn bộ gửi về huyện và cơ quan chủ quản tàu cá. Ba năm nay, không một gia đình nào bên nhà được báo lên nhận người

.

Tôi quáng quàng quơ tay trên mặt bàn tìm giấy nhưng không thấy. Đầu ngón tay chạm phải cây bút bi nắp nhựa, tôi giật phăng nắp, tì ngòi bút cào mạnh lên mu bàn tay trái. Từng con số, từng chữ cái ngoằn ngoèo hằn đỏ trên da thịt, mực xanh lem luốc theo mồ hôi túa ra từ lỗ chân lông.

— Ba năm... không nhà nào được báo ư anh?

— Không một nhà nào

. Tiếng tút dài vang lên sát tai, cắt cụt câu nói sau cùng của anh cán bộ.

Tôi hạ cánh tay cầm điện thoại xuống. Màn hình tối om. Bố tôi vẫn ngồi nguyên tư thế cúi gập, cái đóm tre trong tay ông đã bị bẻ gãy làm đôi từ lúc nào, đầu gãy tưa ra những sợi dăm nham nhở.

Phải có người sang xóm Lưới nói cho bà Thoa biết chồng bà đang nằm trạm xá, và người ấy chỉ có thể là tôi.

---

Gió biển buổi sớm lùa qua hàng cọc tre cắm xiêu vẹo ở mép sân nhà bà Thoa, tanh nồng mùi cá sấy dở. Tôi chạy xe sang, bánh xe máy trượt một vệt dài trên cát ướt rồi đứng sững lại ngay cổng rào.

Bà Thoa đang vắt tấm lưới bén màu xanh lên sào tre. Nhìn thấy tôi, tay bà khựng lại giữa chừng, tấm lưới còn vắt ngang nửa sào. Tôi bước tới, miệng mở ra định nói cho tròn vành rõ chữ từng lời anh Hiếu dặn, nhưng khi nhìn vào khóe mắt trũng sâu vàng như nghệ của người đàn bà ba năm rưỡi nay không chồng mà cũng chưa góa, cuống họng tôi nghẹn cứng.

— Bác Thoa... anh Hiếu bên Lãnh sự gọi về rồi. Bác Hoành... bác ấy đang nằm dưới trạm xá bên nước bạn

.

Tấm lưới xanh trên tay bà Thoa tuột xuống đất đánh xoạch. Bà không kêu lên một tiếng nào, chỉ ngồi thụp xuống ngay mép sân phơi, hai mắt dán chặt vào mớ mắt lưới bùng nhùng dưới chân.

— Bác ơi, bác cầm máy gọi lại sang bên đó với con đi, anh Hiếu nói...

Tôi chìa cái điện thoại ra trước mặt, nhưng bà Thoa đưa bàn tay thô ráp, nứt nẻ vì ngâm nước mặn đẩy nhẹ nó ra xa. Bà không khóc, mặt khô rang, hai môi mím chặt thành một vệt trắng bợt. Bàn tay bà cứ thế đặt lên tấm lưới, miết đi miết lại theo một chiều từ trên xuống dưới, nghe sột soạt như tiếng lá khô cọ vào đá.

— Bác đừng miết nữa, lưới rách hết bây giờ

.

Tôi sốt ruột giục, nhưng bà Thoa như không nghe thấy. Cái bóng lưng còng của bà in một vệt đen thẫm trên nền cát ẩm. Giá như tôi sang đây sớm hơn một tuần, thì bà ấy đã có thêm bảy ngày để xoay xở, để hỏi, để làm một cái gì đó, thay vì ngồi bệt dưới sân như lúc này. Ngực tôi thắt lại, tôi buông quai cặp da, đứng dậy bước ra góc sân đứng một lúc cho cái nghẹn trong ngực dịu xuống, rồi mới lầm lũi quay lại ngồi bệt xuống cạnh bà.

Tiếng đòn gánh kẽo kẹt dừng lại trước ngõ. Bà Mót quẩy đôi sọt cá vụn đi ngang, thấy cảnh ấy thì đặt gánh xuống đất. Đôi ủng cao su dính đầy vảy cá lẹp xẹp bước vào sân. Bà Mót không hỏi nửa lời, chỉ lẳng lặng bước tới đứng sát sau lưng bà Thoa, đặt một bàn tay sạm đen vì nắng gió lên bờ vai đang hơi run rẩy của người đàn bà ngồi dưới đất. Hai người đàn bà làng chài, hai người có chồng cùng đi một chuyến tàu, cùng nằm bên kia dưới tên người khác, cứ thế, một người đứng một người ngồi giữa khoảng sân lộng gió.

Bữa cơm trưa hôm ấy ở xóm Cồn diễn ra trong im lặng tuyệt đối. Mâm cơm chỉ có đĩa rau muống luộc với bát nước mắm dầm ớt. Bố tôi ngồi đầu chiếu, nghe tôi thuật lại từng câu anh Hiếu nói về những lá công văn bị chôn vùi. Ông không ngẩng mặt lên, lùa thật nhanh một miếng cơm vào miệng, rồi cứ thế nhai trệu trạo. Miếng cơm dường như không trôi qua được cuống họng, ứ một cục bên má ông hồi lâu mà không thấy tiếng nuốt.

Ba năm trước người ta đã gửi giấy về tận huyện. Có người ở cái đất này đã nhận nó rồi ỉm đi, để mặc năm con người bên kia chết dần mòn trong cái tên của kẻ khác.

---

Qua Tết dương lịch mấy hôm, Tuấn gọi tôi lên huyện. Lương tháng một vừa lĩnh sáu triệu hai, trả tiền nhà năm triệu rưỡi, mấy lượt đổ xăng đi huyện hết hai trăm hai mươi nghìn, trong cặp còn hai triệu một trăm ba mươi nghìn. Kho băng lưu trữ của đài truyền thanh huyện Hoà Trung nồng nặc mùi ẩm mốc của giấy sấy chưa kỹ và mùi băng từ để lâu ngày bị biến chất. Trên những kệ sắt rỉ sét, hàng trăm hộp nhựa màu xám xếp chồng lên nhau như những viên gạch cũ.

Tuấn ngồi sau cái bàn gỗ bong tróc lớp véc-ni, trên bàn đặt một quyển sổ công văn đến bìa cứng màu xanh đậm đã sờn rách bốn góc. Từ hôm bị đài cho thôi việc, anh vẫn xin ở lại dọn kho không lương, nên chùm chìa khoá kho vẫn nằm trong túi anh.

— Băng với sổ thì không ra khỏi phòng này được đâu

. Tuấn nói, giọng cộc lốc quen thuộc của một người vừa bị đẩy ra khỏi biên chế nhà nước.

— Nguyên tắc là nguyên tắc. Muốn xem thì ngồi đây mà xem

.

— Tôi không mang đi đâu hết

. Tôi đặt chiếc cặp da lên mép bàn, ngón tay miết chặt quai da đã sờn chỉ.

— Chỉ cần anh cho tôi nghe lại đúng cái bản tin ấy

.

Tuấn không đáp, với tay đẩy cặp kính cận gọng đồi mồi lên sống mũi. Ngón tay anh gõ nhịp nhịp lên mặt trang sổ công văn đã ố vàng, nơi dòng mực đỏ ghi ngày tháng của ba năm về trước. Anh với tay kéo chiếc máy cassette chuyên dụng to như cái vali con lại gần, ấn mạnh phím Play đánh tách một tiếng.

Hai trục băng màu đen chầm chậm quay. Tiếng rè rè của dải băng cũ miết qua đầu từ kéo theo một giọng nam phát thanh viên trầm, vang, mang ngữ điệu trang trọng của những bản tin thời sự địa phương:

— ...Liên quan đến vụ việc tàu cá mang số hiệu tỉnh nhà hoạt động sai vùng biển quy định, Cơ quan đại diện ngoại giao xác nhận hiện có sáu công dân đang bị phía bạn tạm giữ để phục vụ điều tra. Văn bản thông báo số một một tư đã được chuyển giao đến Ủy ban nhân dân huyện Hoà Trung và Công ty trách nhiệm hữu hạn thủy sản Cự Phát để khẩn trương tiến hành các thủ tục bảo hộ cần thiết...

Tôi nín thở. Chữ

— sáu công dân

đập thẳng vào tai, rõ mồn một từng tiếng. Sáu người còn sống, đang bị giữ. Không phải sáu người chết chìm như cái cách mà ông chủ tàu Cự Phát rêu rao khắp làng chài bao năm qua, cũng không phải tờ giấy chết mà người ta dùng để bịt miệng các gia đình.

Tôi run rẩy lật mặt sau của tờ lịch cũ nhặt vội trên xe, tì bút lên mặt bàn gỗ gồ ghề, chép vội từng chữ số, từng ngày tháng, trong lúc Tuấn dò theo dòng ghi chép trong sổ mà đọc lên:

— Sổ này chỉ ghi phía đài: bản thông báo về tới đài ba hôm sau, có vào sổ lưu trữ của đài. Còn bên huyện với bên Cự Phát nhận ngày nào, ai ký nhận, thì phải hỏi chính chỗ họ

. Tuấn vừa lật trang giấy vừa nói rành mạch, tay anh lật từng trang, dứt khoát, không thừa một nhịp.

Ngoài cửa kho, bóng một bác bảo vệ già mặc bộ đồ bảo hộ xanh bạc màu quét chổi tre qua hành lang. Bác khựng lại một nhịp, đưa mắt nhìn xoáy vào hai người chúng tôi đang ngồi lọt thỏm giữa những kệ băng cũ kỹ, chiếc chổi tre trên tay bác ngừng đưa, bụi đất lơ lửng trong vệt nắng xiên qua khung cửa chớp. Nhìn thấy quyển sổ công văn giở rộng trên bàn, bác khẽ tặc lưỡi một cái rồi lẳng lặng quay lưng quét tiếp, tiếng chổi rào rào trượt dài trên nền xi măng thô ráp.

— Công văn gửi đích danh hai nơi

. Tôi ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào mắt Tuấn.

— Một cơ quan nhà nước, một công ty tư nhân sở hữu con tàu. Cả hai nơi đều nhận được cùng một nội dung

.

— Đúng

. Tuấn khép phắt cuốn sổ bìa cứng lại, một tiếng cộp khô khốc, tôi không kịp nhìn thêm dòng nào.

— Và bên đài huyện chỉ phát bản tin này đúng một lần duy nhất vào khung giờ trưa hôm đó. Sau đấy có chỉ đạo rút xuống, không nhắc lại nữa

.

Tôi siết chặt tờ lịch cũ trong lòng bàn tay. Tờ giấy mỏng manh nhưng từng con số ghi trên đó nặng như chì. Ông Cự từng đứng trước mặt năm người đàn bà ở xóm Lưới khóc lóc thề thốt rằng công ty đã làm hết cách nhưng bên kia không chịu thả người, rằng thủ tục bế tắc vì chính sách nước bạn ngặt nghèo. Nhưng sự thật nằm ở đây, trong cái góc kho bốc mùi ẩm mốc này.

Không thể dùng lời nói suông để bắt ông ta cúi đầu nhận tội. Thứ duy nhất có thể lôi sự thật ra ánh sáng là tờ công văn trả lời mang chính chữ ký và con dấu của kẻ đã tiếp nhận những văn bản này ba năm trước.

— Tuấn này

. Tôi nuốt khan, giọng khẽ run nhưng dằn từng tiếng.

— Công văn gửi về hai nơi, thì bắt buộc phải có văn bản trả lời gửi ngược lại cho bên Lãnh sự. Anh làm ở đây lâu, anh nói tôi nghe, cái văn bản trả lời ấy, bây giờ nó đang nằm ở xó nào?

Hết chương 18
Mục lục

Chương 19 — Số hiệu trên mặt sau tờ lịch

Bản nghe

Nghe tiếp thay vì đọc tiếp

Cả 24 chương đều có tập nghe.

@tram.truyen89