Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 6 phút · 1.261 từ
Cả xóm Cồn cúp điện từ chiều, tối thui tối mò không một ngọn đèn đường, gian nhà có bàn thờ lạnh ngắt như cái đình hoang. Tôi chưa kịp thắp lấy một nén nhang hay vặn cây đèn dầu, bố đã lủi thủi ngồi dựa vách ngay dưới bàn thờ, im thin thít. Đôi tay sần sùi của ông mò mẫm trên vách tường loang lổ, gỡ xuống sợi dây câu cũ vắt trên vách từ ba năm trước, cái thứ dây cước mốc meo vẫn còn vương mùi mặn chát của biển sâu. Ông cứ ngồi đó gỡ mấy cái nút rối mãi mà vẫn chưa mở miệng, cái cách cù nhầy kéo dài sự im lặng khiến lồng ngực tôi nặng trịch như bị tảng đá đè. Tôi sợ ông lại buông câu hẹn sang mai rồi mất hút vào bóng tối, đành lặng lẽ kéo ghế ngồi sát cạnh, cầm lấy một đầu dây cuộn tròn vào lòng bàn tay cho ông gỡ đầu kia, giữ cho đôi tay bận bịu để khỏi phải buông lời giục giã. Động tác cuộn từng vòng dây cước cứ thế kéo tuột tôi về cái thời còn con bé, ngồi ngay hiên nhà gỡ rối dây câu cho bố trước mỗi chuyến khơi xa, bên cạnh là mẹ cặm cụi xâu kim vá lại chiếc áo phao rách vai. Đứa con gái hàng xóm vừa đi ngang qua ngõ, liếc bóng tối trong nhà rồi quăng lại một câu xóc óc rằng nhà này ba năm nay có ma ở chứ người ngợm gì, rồi lách xe máy vút đi.
---
Bố hắng giọng một tiếng khô khốc, bàn tay vẫn lần mò trên đoạn dây cước sờn rách, đoạn cất tiếng khàn đục như từ dưới đáy giếng vọng lên. Tàu BL 92468 TS rời cảng cá Cửa Mòi giữa tháng sáu năm hai mốt, trên tàu có sáu người, ai cũng đi vì miếng cơm. Ra khơi được hơn một tháng, giữa lúc biển lặng ngoài khơi xa, con tàu bị lực lượng bên kia bắt giữ ở vùng biển nước ngoài, chứ nào phải chìm nghỉm dưới đáy nước như lời đồn đại ác độc ngoài chợ.
Tôi hỏi bố, nếu tàu bị bắt giữa biển khơi, sao suốt ba năm ròng ở nhà không ai hay lấy một tin? Bố im một lúc, tay vẫn lần sợi dây câu, rồi kể sang chuyện ngay trước chuyến đi ấy, khi ông Cự, ông Trần Văn Cự chủ con tàu, giám đốc công ty thuỷ sản Cự Phát, gọi bố ra tận văn phòng công ty đưa cho mảnh giấy nhàu nát. Đến lúc tôi hỏi gặng mảnh giấy ấy đang nằm ở xó nào để làm chứng cớ, bố bỗng ho sù sụ từng cơn, bàn tay phải cứ vô thức xoa đi xoa lại vết sẹo dài lồi lõm trên cổ tay trái, rồi trả lời cụt lủn rằng ông nhớ rõ như in cả sáu cái tên chứ mảnh giấy chẳng đời nào giữ lại làm gì cho vướng víu.
Câu trả lời ấy cộc hơn tất cả những câu khác của ông tối nay, tôi cắn chặt môi dưới đến rớm máu, lật đật tháo cặp kính trắng ra lau đi lau lại ba bốn bận trong bóng tối đặc quánh, tự dỗ dành bản thân rằng chắc bố đã kiệt sức sau ngần ấy năm trong tù. Ông Cự dặn dò rành rọt trước lúc xuống tàu rằng nếu chẳng may có chuyện chẳng lành xảy ra thì sáu anh em cứ khai đúng sáu cái tên khác ghi trong mảnh giấy ấy, chỉ nhận là bạn tàu đi thuê mướn cho một chủ khác hoàn toàn, tuyệt đối không được nhắc đến tên công ty quản lý, không được hé răng nửa lời về số hiệu con tàu, rồi chủ tàu sẽ lo tiền bạc để chuộc người về chỉ sau vài tháng ngắn ngủi. Cả sáu con người khờ khạo ấy đã tin sái cổ và khai đúng y chang lời dặn dò ấy trước cơ quan chức năng nước bạn. Ba năm mòn mỏi trong trại giam xứ người không một lá thư tay, không một mẩu tin tức lọt về, chẳng một bóng người hỏi han tìm kiếm, bởi vì cứ tra cứu theo sáu cái tên thật của họ thì làm gì có ai tồn tại trên đời. Bố điểm tên rành mạch từng người còn đang bị giam hãm trong bốn bức tường cao ở nơi xứ người, từ ông Hoành máy trưởng già cả đến ông Dậu, ông Thà, ông Lợi và ông Chín.
---
Nhà nghèo túng đến một tờ giấy trắng cũng chẳng còn, tôi phải đứng phắt dậy lật đật xé toạc một tờ lịch năm ngoái đã ngả màu trên tường, bật chiếc đèn pin điện thoại soi sáng để cặm cụi ghi chép. Ngay giữa lúc tôi đang run rẩy nắn nót từng nét chữ sợ sai sót, thằng Tèo bất thình lình đứng sừng sững ở ngay cửa buồng cất tiếng hỏi ngang xương rằng vậy ba năm nay nhà mình lập bàn thờ để cúng ai, câu hỏi lơ lửng cắt ngang giữa chừng làm tay tôi khựng lại. Tôi không buồn quay đầu nhìn nó, chỉ siết chặt cây bút bi trong lòng bàn tay đến mức in hằn vết đỏ, ngước đôi mắt cay xè nhìn lên di ảnh của bố mờ ảo trong quầng sáng leo lét của màn hình điện thoại. Nó đứng đó với chiếc cổ áo kéo cao che kín miệng, lặng lẽ nghe hết mọi chuyện từ đầu đến cuối, đoạn quay lưng lủi thủi bước sâu vào trong buồng, để lại tấm rèm cửa còn đung đưa nhè nhẹ trong làn gió quẩn.
Tôi hỏi bố trốn về bằng cách nào, và có giữ lại được mảnh giấy nào để mai mốt mang ra trình báo không. Bố chậm rãi kể lại cái ngày trại giam bắt đi bốc hàng ngoài cảng biển lớn, ông thừa cơ trốn lên một chiếc tàu cá Việt Nam đang neo gần đó, được mấy người bạn tàu giấu dưới hầm đá lạnh cóng cho đến tận khi cập bờ. Ông trở về với hai bàn tay trắng, trên người chẳng còn nổi một tờ giấy lận lưng, ngoài chiếc túi nylon buộc chặt dây cước nhàu nát.
---
Tôi nhẩm tính trong đầu những thứ đang nằm gọn trong tay mình lúc này: ngày rời cảng, ngày bị bắt giữ, và sáu cái tên xa lạ, tất cả đều là nét chữ run rẩy của chính tôi viết ra trên mặt sau tờ lịch cũ. Tôi sợ hãi cái cảnh sáng mai tỉnh giấc nhìn ra hiên nhà lại chỉ thấy đôi dép tổ ong mòn vẹt của bố nằm lạnh lẽo ở đó còn người thì bặt vô âm tín. Tôi chậm rãi đưa bàn tay gầy gò vuốt thật phẳng phiu mép tờ lịch, nghẹn ngào bảo bố rằng mai con đưa bố lên thị trấn chụp ảnh làm hồ sơ, rồi con xin phép nghỉ làm để đi cùng bố lên đồn biên phòng Cửa Mòi trình báo, rồi tự dặn lòng phải tin rằng bố đã nói hết sự thật. Tôi lặng lẽ ngồi bệt xuống nền nhà, bên chiếc bàn nhựa đỏ quạch giữa nhà, đôi tay run lẩy bẩy nâng niu tờ lịch chi chít sáu cái tên lạ hoắc vừa viết vội trong bóng tối mịt mùng.