Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 6 phút
Sáng đó, tôi vừa dạy được một lúc thì Lưu ma ma ra gọi lên nhà chính. Sắc mặt bà không vui vẻ như mọi khi, chỉ buông đúng một câu:
— Phu nhân cho gọi.
Nói xong, bà quay lưng đi trước, không đợi tôi hỏi thêm. Trịnh thị ngồi ở ghế trên, tay gõ nhẹ lên mặt bàn. Bà nhìn tôi bước vào, nhạt giọng nói thẳng:
— Hai buổi rồi, bốn đứa nhà tôi không học được một chữ nào ra hồn. Tôi đã cho người lên phủ thành hỏi lại xem còn ai dạy được không.
Tôi đứng im nghe hết câu, hai tay siết chặt vạt áo phía sau lưng. Trong lòng tôi tính nhanh, hai buổi vừa rồi tôi mới chỉ đứng lớp gọi tên hỏi bài.
Tôi cụp mắt:
— Xin phu nhân cho tôi thêm một buổi. Tôi sẽ cho phu nhân thấy bốn tiểu thư học được tới đâu.
Trịnh thị nhìn tôi hồi lâu rồi gật đầu, cho tới hết buổi chiều hôm đó, không hơn. Bà không nói thêm lý do, chỉ đưa mắt ra hiệu cho tôi lui xuống. Tôi hỏi Lưu ma ma xem thầy dạy chữ trước để lại những gì. Bà dẫn tôi ra một góc kho tối. Cửa vừa mở, mùi ẩm mốc trộn với mùi giấy cũ đã xộc lên. Bà chỉ vào cái hòm gỗ cũ, bảo:
— Chỉ có chừng này thôi, thầy trước dọn đi gần hết rồi.
Cái hòm đóng bằng gỗ mộc, góc đã sứt, nắp không khoá, chỉ cài một sợi dây gai buộc chéo qua hai quai sắt. Bên trong xếp ngay ngắn bốn tập vở. Mỗi tập mở đầu bằng một chữ chép đi chép lại một trăm lần, cuối mỗi tập còn một trang tự đặt câu mở đầu bằng đúng chữ đó, gáy vở đã sờn vì lật đi lật lại nhiều lần.
Trên mái nhà chỉ có một khe hở lọt xuống chút ánh sáng. Tôi ngồi bệt trên nền kho lật từng tập vở, đọc tới đâu hiểu tới đó. Ngoài kho nắng đã lên cao, tôi vẫn ngồi yên không đứng dậy, quên cả bữa trưa Lưu ma ma ra gọi một lần rồi thôi. Ngồi lâu trên nền đất lạnh, lưng tôi mỏi nhừ, nhưng tôi không dám đứng dậy giữa chừng vì sợ đứt mạch đọc. Mười một năm chấm bài cho tôi con mắt phân biệt được chỗ một đứa trẻ viết bằng tay quen với chỗ nó viết bằng cái đầu đang nghĩ. Tập của Tô Vân đều tăm tắp suốt phần chép trăm lần. Tới đúng trang cuối, chỗ phải tự nghĩ câu mở đầu của riêng mình, nét chữ mới bắt đầu run, ngả nghiêng hẳn đi. Tập của Tô Nghiên chữ rất đẹp, đều như in suốt cả trăm lần chép. Nhưng đến trang tự đặt câu, con bé khựng lại một nhịp, không viết thêm được chữ nào. Tập của Tô Tịch có mấy chỗ gạch xoá lem nhem, đúng những chỗ lẽ ra phải dừng lại hỏi một câu. Còn tập của Tô Linh, tôi lật đi lật lại không thấy trang tự đặt câu nào. Nét chữ đều một kiểu từ đầu tới cuối, không một chỗ nhanh chậm, giống như một cái máy đang chạy chứ không phải đứa trẻ đang chép.
Tôi gấp lại cả bốn tập, xếp ngay ngắn theo đúng thứ tự tuổi của bốn đứa, bàn tay khẽ run.
Chiều hôm đó, tôi ôm bốn tập vở lên nhà chính. Đứng trước mặt Trịnh thị, tôi nói ra đúng những gì vừa đọc được:
— Đại tiểu thư biết chữ, chỉ là con bé chưa từng được để yên cho tự nghĩ ra một câu của riêng mình, cứ tới chỗ phải tự đặt câu là dừng lại. Nhị tiểu thư viết đẹp vì con bé sợ sai hơn sợ bất cứ điều gì khác, sợ tới mức thà không viết còn hơn viết ra một chữ có thể bị chê. Tam tiểu thư cần được cho phép hỏi lại giữa buổi.
Trịnh thị chen vào:
— Con bé đó trong nhà này vốn ít được ai hỏi han, càng ít được cho phép hỏi lại.
Tôi gật đầu nói tiếp:
— Còn tứ tiểu thư cần một người ngồi kề bên bắt đầu cùng, chứ không phải giao việc rồi bỏ mặc.
Tôi chỉ tay vào từng đoạn cụ thể trong từng tập để bà nhìn thấy tận mắt. Lưu ma ma đứng nép ở cửa không dám xen vào. Mỗi lần tôi nói tới một đứa, tôi lại thấy bà gật đầu khe khẽ.
Trịnh thị trầm mặc hồi lâu, tay không gõ bàn nữa, mắt nhìn xuống mấy trang vở đang mở. Bà ngước mắt hỏi lại, giọng chậm hẳn xuống:
— Sao tiên sinh biết được những chuyện ấy chỉ qua mấy tập chữ chép cũ?
Tôi thấp giọng đáp:
— Tôi chỉ nhìn kỹ từng nét chữ khác nhau giữa chỗ viết quen tay và chỗ viết vì phải nghĩ.
Trịnh thị không hỏi thêm. Bà gọi Lưu ma ma vào, bảo dọn cho tôi một cái bàn riêng ở góc sân gạch, không phải ngồi chung chỗ với bốn đứa nữa.
Trịnh thị nhạt giọng nói:
— Tôi cho tiên sinh ba tháng.
Bà vẫn bao ăn ở như cũ, không trả một đồng lương nào. Hạn chót là kỳ khảo bài vào rằm tháng tám do chính lão gia ra đề. Từ khi tới đây, tôi chưa từng gặp mặt lão gia lấy một lần, chỉ nghe nhắc tên ông qua Trịnh thị và Lưu ma ma. Vậy mà chính ông sẽ là người cầm cân nảy mực cho cả ba tháng sắp tới của tôi. Bà nói thêm, giọng không đổi:
— Tới ngày đó mà bốn đứa vẫn như bây giờ thì tiên sinh phải rời khỏi phủ này ngay trong ngày, không cần đợi ai nhắc.
Tôi cụp mắt đáp vâng. Trong lòng tôi hiểu rõ, ba tháng đối với bốn đứa trẻ chưa từng thật sự cầm bút là quá ngắn.
Lưu ma ma dọn ra cho tôi một cái bàn gỗ cũ kê ở góc sân, mặt bàn còn mấy vết mực khô lâu ngày không lau hết. Bà đưa cho tôi đúng bốn tờ giấy trắng, dặn:
— Đây là phần giấy ứng trước của tháng sau, dùng sao cho đủ, hết trước hạn thì tự lo liệu.
Tôi bê cái bàn về đúng góc được chỉ rồi ngồi xuống, tay đặt lên bốn tờ giấy mỏng. Tôi chưa dám viết chữ nào vì sợ viết hỏng lại phải xin thêm, mà xin thêm thì chưa biết mở miệng với ai cho phải phép. Nắng chiều tắt chậm, ngoài tường tiếng ve kêu rả rích. Bốn tập vở chép trăm lần vẫn còn nằm trong kho. Gió thổi lật một góc trang giấy trên bàn, tôi giơ tay đè lại. Mọi người đã vào ăn cơm, tôi còn ngồi lại một mình ở góc sân gạch rất lâu.