Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 5 phút
Sáng hôm sau đúng giờ Thần, tôi bước ra sân gạch. Bốn cô học trò đã ngồi sẵn theo thứ tự: Tô Vân ngồi hàng đầu, ba đứa em phía sau ngồi trên mấy chiếc ghế đẩu thấp dưới gốc cây to rợp bóng. Mặt chúng còn ngái ngủ, không đứa nào mang theo giấy bút, chỉ có chiếc bàn gỗ mộc kê phía trước vẫn trống trơn. Trên lá cây còn đọng sương sớm, thỉnh thoảng một giọt rơi xuống bàn kêu tách một tiếng. Tôi hắng giọng cho tỉnh táo, tay khoanh trước bụng, cố giữ dáng đứng nghiêm chỉnh. Đứng trước mặt cả bốn, tôi làm đúng việc vẫn làm buổi đầu năm học, gọi tên từng đứa theo thứ tự lớn nhỏ để điểm danh.
Tôi gọi tên đầu tiên:
— Tô Vân.
Con bé không đáp ngay, một lúc sau mới nhạt giọng buông hai chữ:
— Có đây.
Mắt nó nhìn đi chỗ khác.
— Tô Nghiên.
Nó đáp liền, ngồi thẳng lưng hơn hẳn ba đứa còn lại:
— Dạ, có ạ.
— Tô Tịch.
Con bé thấp giọng đáp, tay mân mê vạt áo:
— Con có ạ.
— Tô Linh.
Sợ lần đầu tôi chưa nghe rõ, nó đáp liền hai lần:
— Có ạ! Con có ạ!
Tôi ghi cả bốn cái tên lên góc tờ giấy nháp, thử làm một cuốn sổ điểm danh nhỏ, dù chưa biết giữ nó làm gì trong phủ này.
Tôi hỏi tiếp:
— Em nào chưa hiểu bài hôm nay thì giơ tay lên.
Không đứa nào nhúc nhích. Tôi hỏi lại lần nữa, vẫn không ai động đậy. Tôi đứng chờ thêm một nhịp, hy vọng ít nhất một đứa rụt rè giơ nửa cánh tay, nhưng cả bốn vẫn ngồi yên như phỗng. Tô Linh ngập ngừng:
— Giơ tay là giơ thế nào ạ, tay đưa lên tới đâu mới tính là giơ?
Tôi giơ tay làm mẫu. Ba đứa kia giương mắt tròn xoe nhìn cánh tay tôi giơ lên, không đứa nào nhấc tay theo. Lưu ma ma đứng ngoài hiên nghe thấy, đứng lặng một lúc rồi quay gót đi thẳng vào nhà chính, không nói câu nào.
Bốn đứa ngồi suốt cả buổi. Không đứa nào hỏi lại tôi câu nào, cũng không viết được chữ nào ra hồn trên tờ giấy tôi phát. Tôi giảng tới đâu, bốn đôi mắt nhìn tôi tới đó. Đến khi tôi hỏi lại, cả bốn liền cúi đầu xuống bàn, im lặng chờ hết giờ để được đứng dậy. Hai tay chúng đặt ngay ngắn trên đùi, giống hệt cách mẹ chúng ngồi ở bàn ăn sáng qua. Tôi lấy giấy ra định cho làm bài kiểm tra nhỏ để xem trình độ từng đứa. Viết được vài dòng đề bài, giấy trong tay đã hết sạch. Tôi phải dừng ngang giữa buổi, lúng túng không biết lấy thêm ở đâu. Lưu ma ma mang ra đúng bốn tờ giấy trắng mới, đặt xuống bàn rồi nhạt giọng nói:
— Mỗi tháng phủ chỉ cấp đúng bốn tờ cho thầy dạy chữ, không hơn không kém. Tiên sinh dùng dè còn để phần cho những buổi sau.
Hết buổi, tôi vào phòng chứa củi tìm giấy vụn, định tối viết lại bài giảng cho gọn. Chiếc hòm gỗ kê sát vách phòng đã cũ, khoá gỗ lỏng lẻo. Tôi bật mở nắp hòm ngay không cần cạy, mùi giấy cũ trộn mùi mọt gỗ lập tức xộc vào mũi. Bên trong không có giấy vụn, chỉ có xấp văn tự cùng sổ sách cũ của phủ xếp chồng lên nhau. Tờ giấy trên cùng phủ một lớp bụi mỏng, chứng tỏ đã lâu không ai động tới. Tôi lật tờ trên cùng, bên trong ghi rõ đã nhận hai mươi lạng bạc tiền cọc. Phía dưới ký tên Kỷ Vân Nương, bên cạnh có dấu tay đóng hằn rõ từng đường vân.
Tôi đưa ngón tay ướm lên dấu tay ấy, hai bên không khớp. Các đường vân đi một kiểu khác hẳn. Bàn tay tôi khẽ run khi gấp tờ văn tự lại theo nếp cũ. Tôi đặt tờ giấy về chỗ cũ rồi cài chặt chốt hòm, tai vẫn dỏng lên nghe ngóng xem có tiếng chân ai lại gần phòng chứa củi hay không. Tôi ngồi thụp xuống bên hòm hồi lâu, tim đập dồn dập, cố nhớ lại xem lúc nãy có làm xê dịch thứ gì khác trong hòm hay không.
Bước ra khỏi phòng chứa củi, tôi đi ngang qua hiên nhà chính. Một cây roi mây treo trên cột ngay tầm mắt. Đầu roi bóng loáng vì cầm nhiều, đoạn giữa đã sờn xơ từng sợi nhỏ. Tôi đứng nhìn cây roi một lúc. Không hỏi ai, tôi ghi nhớ vị trí treo roi.
Đêm đó, tôi nằm trên đống củi, tính đường ra khỏi phủ. Tôi trăn trở lật người, đếm lại những gì đang có trong tay: không một đồng bạc, không tờ giấy tuỳ thân, không một người quen ngoài huyện để nhờ vả. Tôi ngồi dậy, khoác tấm chiếu quanh vai, mò ra cửa phòng chứa củi nhìn về phía cổng phủ tối om. Cổng phủ đóng then cài. Ngoài kia là nơi tôi chưa thuộc nổi một con đường, chưa quen nổi một tên phố. Tôi đứng đó hồi lâu rồi quay vào, kéo chiếu nằm xuống.
Tiền cọc đứng tên một người phụ nữ họ Kỷ, còn tôi vừa khéo lại mang họ ấy. Nếu tôi bỏ đi, món nợ vẫn nằm lại trong phủ, chờ người ta phát hiện ra kẻ ký tên đã biến mất lần thứ hai. Tôi trở mình, kéo sát tấm chiếu. Trong đống củi, tiếng mọt gặm gỗ kêu lích rích. Thỉnh thoảng, gió lùa qua khe vách làm ngọn nến phòng bên khẽ chao. Ngoài vườn, tiếng côn trùng kêu ra rả không dứt. Xa xa có tiếng gà giật mình gáy lên một tiếng rồi im bặt. Trước đây, việc khó nhất của tôi chỉ là nghe phụ huynh mắng vốn chuyện điểm số. Bây giờ, việc khó nhất là sống qua đêm nay mà không bị hỏi lấy hai mươi lạng bạc ở đâu ra. Nằm suy tính tới gần sáng, tôi vẫn không tìm ra lối thoát nào khác. Sáng ra, tôi đành dậy sớm, bước ra sân gạch, đứng vào đúng chỗ Kỷ Vân Nương để lại, gọi bốn cái tên điểm danh một lần nữa và dạy tiếp buổi thứ hai.