Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 5 phút
Lưu ma ma gọi tôi lên nhà chính ngay sau bữa sáng, bảo lão gia cho gọi và không nói thêm lý do gì. Ngồi sau án thư, Tô Trọng Kỳ nhìn thẳng vào tôi; một chồng sổ hộ mới chép còn để nguyên trên bàn, chưa buộc dây. Vừa cúi chào, tôi nghe ông mở lời ngay:
— Tháng đầu đi làm Tô Vân chép được tám mươi s bộ đơn, mà chồng đơn tồn ở cửa quan vẫn chưa vơi nổi một nửa.
Ra khỏi miệng ông, con số đó rành rọt như đọc một dòng trong sổ, vốn không phải điều tôi tự đếm ra được lúc đứng ở cửa quan hôm trước. Ông gõ ngón tay lên mặt bàn một nhịp, mắt vẫn nhìn thẳng vào tôi, chưa vội nói tiếp.
Ông nói luôn điều ông cần, đúng cái lối ông vẫn dùng để ra tay với tôi từ hồi kỳ khảo rằm tháng tám. Cửa quan cần thêm người biết chép, huyện này cần một chỗ đào ra được người đó, không đợi thêm một kỳ khảo hạch nào nữa mới có. Sang đứng hầu bên cột, Lưu ma ma được ông quay sang sai qua học đường phố Tây mời Trình Kính Chi mang cuốn sổ hương ước học đường sang phủ ngay trong buổi sáng. Dạ một tiếng rồi lui ra, Lưu ma ma bỏ lại tôi đứng một mình trước án thư, không biết ông gọi cuốn sổ đó sang để làm gì tới tôi.
Trình Kính Chi tới nhanh hơn tôi tưởng, tay ôm cuốn sổ bìa vải cũ bước qua sân gạch tới thẳng cái bàn tôi vẫn kê dạy bốn đứa mỗi sáng. Đặt sổ xuống, mở đúng trang điều ba, cầm bút chấm mực, ông không ngẩng lên nhìn tôi một lần trong suốt lúc viết. Đứng ngay cạnh bàn, đủ gần để đọc được từng nét bút ông đưa xuống, tôi thấy tên mình hiện ra dưới tên ông, cùng một hàng, viết đủ họ đủ tên đúng theo lối cả sáu điều còn lại của cuốn sổ vẫn ghi.
Gấp sổ lại, ấn tay lên gáy sổ cho phẳng, ông cất vào trong tay áo. Cuốn sổ hương ước vẫn là của ông, chỉ khác là giờ có thêm một cái tên nằm dưới tên ông trong điều ba. Lệnh cấm mở lớp thu học phí ký từ mùng tám tháng chạp năm ngoái không hề được nhắc tới nửa lời suốt buổi sáng đó, và cũng không ai đứng ra nói với tôi một câu xin lỗi nào.
Gấp sổ xong ông mới mở miệng:
— Cho tôi xem qua bộ bài tập bốn đứa vẫn làm mỗi ngày được không?
Đứng thẳng giữa sân, tôi đáp ngay, không đợi ông ra tới cổng mới nói:
— Không được.
Nhìn tôi một lúc, không hỏi lại, không tỏ vẻ giận, ông chỉ chắp tay chào rồi quay ra, dáng đi vẫn thẳng như lúc bước vào.
Đang ngồi chấm bài cho Tô Tịch ở góc sân chiều hôm đó, tôi thấy Trịnh thị bước ra hiên nhà chính, tự tay với lên gỡ cây roi mây vẫn treo trên cột từ hồi tôi mới tới phủ. Không gọi Lưu ma ma phụ, cũng không sai đứa nào trong nhà làm hộ, bà cầm cây roi đi thẳng xuống bếp, dáng đi chậm nhưng chắc. Ngửi thấy mùi mây cháy khét lẫn trong khói bếp bay ngang qua sân một lúc sau, tôi nhận ra ngay là mùi gì, dù không nồng lắm. Không hỏi Trịnh thị một câu, tôi đứng nhìn, còn bà cũng không đứng lại giải thích với ai.
Cuối buổi chiều tôi lên xin lão gia một chữ để ra khỏi phủ, nói là tôi cần mua thêm giấy bút cho lớp học sắp mở. Viết mấy chữ vào tờ giấy, Tô Trọng Kỳ đưa tôi không hỏi thêm câu nào, có lẽ vì buổi sáng vừa xong việc cuốn sổ nên ông không còn bận tâm tôi đi đâu làm gì nữa. Giắt tờ giấy vào vạt áo, tôi đi bộ một mạch ra phố Đông; trời lúc đó đã ngả về chiều muộn, mấy quán hàng hai bên đường bắt đầu thu dọn sạp.
Đứng ở quán giấy bút, tôi nói với Hạ Đại Nương rằng đầu tháng tư tôi mở lớp, học phí hai trăm văn một tháng, ai muốn học chữ thì tới.
— Hai trăm văn?
Bà nhắc lại, tay vẫn đang xếp mấy chồng giấy trên kệ, không ngẩng lên ngay. Là người đầu tiên trong cả huyện tôi nói ra chuyện này, bà biết trước cả người trong phủ, trước cả Trịnh thị hay bốn đứa học trò cũ của tôi. Gật đầu, bà nói:
— Tôi ghi tên trước, cô Kỷ đừng quên phần tôi.
Đầu tháng tư, lớp công khai của tôi mở đúng như đã hẹn, học phí hai trăm văn một tháng, bàn kê ngay giữa sân gạch dưới gốc cây to. Người xếp đầu hàng sáng hôm đó chính là Hạ Đại Nương, bốn mươi bốn tuổi, bán giấy bút cả đời mà chưa từng đọc được một chữ nào trên chính những tờ giấy bà bán ra mỗi ngày. Đứng thẳng lưng giữa hàng người, tay ôm một cái túi vải nhỏ đựng tiền, áo ngoài đã sờn ở cổ, bà nhìn thẳng về phía cái bàn tôi kê cuốn sổ điểm danh mới đóng.
Tới lượt bà, Hạ Đại Nương đặt xuống bàn đúng hai trăm văn, xếp thành từng chồng nhỏ ngay ngắn như cách bà vẫn xếp giấy trên kệ quán mình, tay run nhẹ lúc rút đồng cuối cùng ra khỏi túi vải. Cầm bút, tôi ghi tên bà vào dòng đầu tiên của cuốn sổ điểm danh còn thơm mùi giấy mới đóng, viết đủ ba chữ Hạ Đại Nương bằng nét chữ ngay ngắn nhất tôi có, rồi ngẩng lên đọc to cái tên ấy cho cả hàng người còn đứng sau bà cùng nghe. Sau lưng bà là một hàng dài, còn trên bàn tôi, bên cạnh cuốn sổ điểm danh vừa mở, vẫn xếp nguyên bốn cuốn sổ giảng lại cũ đã sờn gáy.