Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 4 phút
Ở đầu sân gạch, nơi bàn học của tôi kê dưới gốc cây to, Trình Kính Chi lại tới, đứng đúng chỗ cũ. Ông hỏi lại đúng câu cũ, xin xem bộ bài tập bốn đứa vẫn dùng. Tôi đáp không ngay khi ông chưa kịp dứt câu, không để ông phải hỏi thêm lần hai. Ông đứng lại một lúc, tay vẫn cầm cây quạt xếp gấp gọn, không đợi tôi hỏi đã lên tiếng:
— Học đường phố Tây tôi vẫn ba mươi mốt đứa, vẫn thu ba trăm văn một tháng, chưa mất đứa nào.
Nói xong, ông quay đi ngay. Dáng đi của ông vẫn thẳng, không một lần ngoái lại nhìn bàn học đông đúc của tôi.
Tôi có bốn lớp với sáu mươi tám học trò rải ra mấy buổi trong tuần. Sáng sớm một lớp, quá trưa một lớp, chiều muộn hai lớp nối nhau tới gần tối mới dứt. Bàn ghế trong sân gạch giờ kê thành mấy dãy, không còn khoảng trống nào như hồi chỉ có bốn đứa con gái nhà họ Tô ngồi học. Tên tôi vẫn nằm dưới tên Trình Kính Chi trong sổ hương ước học đường, đúng như hôm ông viết thêm vào điều ba. Trong sổ đinh phủ họ Tô, tên tôi cũng chưa ai xoá đi một chữ. Ra khỏi phủ, tôi vẫn phải trình một chữ ký của lão gia.
Mỗi ngày, Tô Vân vẫn ngồi ở cửa quan, tay cầm bút chép hết chồng đơn này tới chồng đơn khác. Dáng ngồi của nó vẫn thẳng lưng như ngày đầu nhận việc thư lại. Nó vẫn chưa lấy chồng. Mỗi bữa cơm, Trịnh thị vẫn hỏi thăm nó, không nhắc thêm câu nào về chuyện chồng con.
Trình Kính Chi sang lần thứ ba. Lần này ông không đứng ở đầu sân như hai lần trước, mà bước hẳn tới gần bàn tôi đang chấm bài, nói thẳng muốn chép lại bộ bài tập của tôi mang về dùng cho học đường của mình. Tôi ngừng tay, đặt bút xuống, ngước mắt nhìn ông một lúc.
Tôi đứng dậy vào phòng, lấy bốn cuốn sổ giảng lại xếp gọn trên giá gỗ đầu giường, nơi tôi để từ đêm khâu xong. Trước khi mang ra sân, tôi đổi thứ tự một lần, đặt cuốn của Tô Linh lên trên cùng. Đó đúng là cuốn có chỗ chép sai tôi đã biết từ hôm cầm bản chép tay của Trình Duyện năm ngoái. Trên gáy sổ, mấy mũi kim tôi khâu thêm hôm đó vẫn còn hằn rõ.
Đặt cả bốn cuốn xuống bàn trước mặt ông, tôi nói ông cứ cầm về, không cần trả tiền, cũng không cần đem gì sang đổi. Trình Kính Chi nhìn tôi một lúc, tay vẫn chưa chạm vào chồng sổ.
Không đợi tôi mời, ông ngồi ngay xuống bậc thềm sân. Ông cầm cuốn của Tô Linh ở trên cùng, mở từ trang đầu, lật từng tờ theo đúng thứ tự. Ngón tay ông chậm rãi lần theo từng dòng, thỉnh thoảng dừng lại đọc kỹ một câu rồi mới lật sang trang kế.
Lật tới một trang giữa cuốn, ông dừng hẳn lại. Ngón tay ông giữ nguyên một chỗ không lật tiếp, sống lưng đơ cứng. Đó đúng là trang tôi viết riêng cho Tô Linh năm xưa. Chữ mẫu đầu trang có một nét sổ hất ngược lên thay vì kéo thẳng xuống. Đêm đó tôi viết vội, ngón tay còn rịn máu vì kim khâu nên không kịp nhận ra để sửa.
Ông không hỏi trang đó là của ai, tôi cũng không mở miệng giải thích. Tôi đứng nhìn ông giữ nguyên tay trên trang giấy hồi lâu. Trong đầu tôi hiện lại đúng nét chữ từng nằm trong cuốn sổ Trình Duyện đặt xuống bàn năm ngoái. Cùng một nét hất ngược, cùng một vị trí giữa trang, không lệch đi một nét.
Ông gấp sổ lại, đặt cả bốn cuốn chồng lên nhau ngay ngắn như lúc mới nhận. Ông không nói thêm câu nào, cũng không hỏi gì về cuốn sổ hay học trò của tôi. Giữa sân, cả hai chúng tôi trầm mặc đứng yên, không ai nhắc tới cái tên Trình Duyện. Chỉ còn tiếng gió lùa qua mấy tàu lá phía sau lưng ông.
Tôi nói đúng một câu trước khi ông đứng dậy ôm sổ:
— Ông cứ chép. Chép xong thì đừng bắt học trò chép trăm lần nữa.
Ông không đáp lại, chỉ gật đầu một cái. Ông ôm cả bốn cuốn sổ sát vào ngực rồi bước ra khỏi cổng phủ. Dáng đi của ông chậm hơn hẳn hai lần trước, không ngoái lại nhìn thêm lần nào.
Tôi đứng nhìn theo cho tới khi bóng ông khuất hẳn ngoài cổng. Quay vào trong, tôi đi qua sân sau, ngang qua miệng giếng nơi mình tỉnh dậy buổi sáng đầu tiên ở phủ. Tôi không khựng lại lấy một nhịp, tay vẫn cầm cây bút chưa kịp đặt xuống. Tôi bước thẳng ra sân gạch, nơi Tô Tịch và Tô Linh đã ngồi chờ giờ học buổi chiều, mấy quyển vở mở sẵn trên bàn.