Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 5 phút
Mười hai ngày sau, tôi lên nhà chính xin một chữ của lão gia để được ra khỏi phủ. Tôi lấy cớ mang nốt chồng sổ hộ vừa chép xong sang nộp ở cửa quan.
Tô Trọng Kỳ ngồi sau án thư. Trước khi cầm bút, ông cất giọng hỏi:
— Sổ đã chép xong cả rồi sao, sao không để thư lại tới lấy?
Tôi đáp thẳng:
— Thưa lão gia, hôm nay có yết bảng kết quả khảo hạch. Tôi muốn tự mắt đọc, không muốn nghe ai kể lại.
Tô Trọng Kỳ nhìn tôi hồi lâu. Ông không hỏi thêm câu nào, đặt bút viết mấy chữ vào tờ giấy rồi đưa cho tôi.
Tôi giắt tờ giấy vào vạt áo, một mình ôm chồng sổ hộ ra khỏi cổng phủ. Buổi sáng cuối tháng hai, tiết trời bớt lạnh hơn hẳn. Nắng nhạt trải trên con đường đất dẫn ra cửa quan. Gió nhẹ thổi qua khiến vạt áo tôi phất phơ. Sân cửa quan đông hơn mọi bận. Đám đông đứng vòng quanh cột cổng, chen nhau đọc. Có người chỉ tay lên tấm bảng mới dán. Có người đọc to hẳn lên cho người đứng sau nghe theo. Giọng bàn tán rộ lên từng đợt mỗi khi có người đọc thêm một cái tên lạ.
Tôi chen vào gần cột cổng, đọc từ trên xuống dưới một lượt: Trình Duyện đỗ nhất, Tô Vân đỗ nhì, Tô Nghiên đỗ ba, Tô Tịch đỗ năm, Tô Linh đỗ sáu. Cửa quan chỉ lấy ba người. Hai cái tên cuối đành dừng lại ở bảng. Tôi đọc lại lần hai cho chắc, tay lần theo từng dòng như thói quen chấm bài ở đời trước. Tôi ôm chồng sổ hộ, quay người đi vào bàn nộp.
Tô Trọng Kỳ đang đứng ở dãy bàn trong sân. Ông gọi Tô Vân tới trước mặt, nói ngay không rào đón:
— Con làm thư lại từ hôm nay, lương hai lạng bạc một tháng cùng năm đấu gạo.
Ông khựng lại một nhịp, liếc mắt sang tôi đang đứng cách vài bước. Cốt giữ sắc mặt không đổi, ông nói tiếp:
— Cửa quan tồn hai trăm bộ đơn chưa ai chép kịp, nhận thêm một người biết chữ thì việc trôi nhanh hơn.
Tô Vân chắp tay đáp:
— Con xin nhận việc, tạ ơn cha.
Tôi đứng nghe hết câu đó, nhạt giọng đáp lại:
— Thưa đại nhân, một mình Tô Vân chép không hết hai trăm bộ đơn, mà cả huyện này cũng không có chỗ nào đào thêm ra người biết chép nữa.
Tô Trọng Kỳ quay sang nhìn tôi một thoáng. Ông trầm mặc không đáp, cúi đầu ký tiếp vào cuốn sổ đang mở trên bàn. Bàn tay ông dừng lại đúng một nhịp trước khi hạ bút xuống dòng kế tiếp.
Buổi chiều, Tô Vân ngồi vào bàn thư lại kê sát vách trong sân cửa quan. Giấy mực đã bày sẵn trước mặt. Một thư lại già ngồi cạnh chỉ việc cho nó. Tôi đứng đợi tới lượt nộp nốt phần sổ hộ còn lại, dời ánh mắt sang bàn Tô Vân. Nó đang cắm cúi chép lại chồng đơn cũ xếp cao bên tay trái. Bàn tay cầm bút của nó còn hơi cứng, nhưng nét chữ đã đều.
Trong chồng đơn cũ đó, tôi nhận ra ngay một tờ từ dòng mở đầu. Đó là lá đơn Trình Kính Chi nộp kiện tôi hồi tháng chạp năm ngoái. Tô Vân chép lại nguyên văn từng chữ, không bớt một dòng nào. Nét bút của nó vẫn đều như chép mấy tờ đơn khác, suốt buổi không ngẩng đầu nhìn tôi lấy một lần. Tôi không nói câu nào, đứng trầm mặc thêm hồi lâu rồi quay đi nộp nốt phần sổ hộ.
Trời xế chiều, tôi trở về phủ. Tôi ngồi lại bàn góc sân gạch dạy tiếp Tô Tịch với Tô Linh như thường lệ, không lấy một đồng. Tô Tịch chép bài chậm hơn hẳn mọi khi vì còn ngẩn ngơ nghĩ tới việc chị mình thành thư lại. Tôi phải nhắc đề hai lần, nó mới chịu cúi đầu viết tiếp.
Đang lúc tôi chấm mấy trang bài của Tô Linh, Trình Duyện xuất hiện ở cổng sân. Cậu ôm một cuốn sổ bìa vải cũ, bước thẳng vào không chào ai, đặt cuốn sổ xuống ngay cạnh chỗ tôi ngồi. Trầm mặc không nói câu nào, cậu đứng thêm một khắc nhìn xuống mặt bàn rồi quay người đi thẳng ra cổng. Bước chân cậu rất nhanh, không ngoái đầu nhìn lại một lần. Tô Tịch cùng Tô Linh ngước mắt nhìn theo, không đứa nào lên tiếng hỏi.
Tôi cầm cuốn sổ lên, lật từ trang đầu tới trang cuối. Nét chữ trong đó khớp với bốn cuốn sổ giảng lại của tôi tới từng chỗ xuống dòng, từng chỗ chia đoạn cho vừa sức mỗi đứa hồi đóng sổ trong đêm năm xưa. Cậu không chép ý theo lời mình nhớ, mà chép nguyên câu, nguyên chữ, nguyên cả những chỗ tôi từng gạch dưới để nhắc mình giảng chậm.
Tới một trang giữa cuốn, tôi khựng lại một nhịp. Trang đó tôi viết riêng cho Tô Linh, đóng sau cùng trong đêm ấy. Ngón tay tôi khi đó đã rịn máu vì kim khâu, ngọn đèn dầu bên cạnh chỉ còn le lói. Ở chữ mẫu đầu trang, tôi viết vội một nét sổ hất ngược lên thay vì kéo thẳng xuống, biến nó thành một chữ khác hẳn mà tôi không kịp nhận ra để sửa. Cuốn sổ trước mặt tôi bây giờ chép lại nguyên cái nét hất ngược đó, không sửa một ly.
Tôi nhớ lại hai lần Trình Duyện đứng ngoài hiên lớp mang trả hộp mực rồi trả một cuốn sách. Cả hai lần tôi nhìn thấy cậu mà không nghĩ ngợi gì thêm. Tôi nhớ cả trang chép tay Trình Kính Chi từng đặt lên án thư ở công đường làm chứng cứ năm ngoái. Ba việc đó giờ mới khớp lại thành một.
Tôi đặt cuốn sổ của Trình Duyện xuống cạnh bốn cuốn của tôi, xếp thành năm cuốn ngay ngắn trên góc bàn. Gáy cuốn nào cũng đã sờn vì lật đi lật lại qua nhiều năm. Tôi lấy chỉ gai còn dư từ hồi đóng sổ năm xưa, xâu qua cây kim vẫn giắt sẵn trong hộp gỗ, chậm rãi khâu lại chỗ gáy đã bung của cuốn thứ năm.