Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 6 phút
Tôi mở mắt ra thì đã ngồi bệt trên nền gạch cạnh một miệng giếng. Ống tay áo bên trái ướt sũng, từng giọt nước nhỏ tong tong xuống đất thành vũng nhỏ dưới khuỷu tay. Trong đầu tôi vẫn còn nguyên bốn mươi hai bài văn chấm dở đêm qua. Cổ gáy mỏi nhừ vì cúi xuống bàn chấm bài nhiều giờ liền, hai mắt cay xè vì thiếu ngủ. Tôi nhìn ra khoảng sân gạch lát đá xanh trước mặt, rêu bám ở từng kẽ hở, dọc bờ tường xếp một hàng chum nước. Phía xa, trời còn tờ mờ, sương chưa tan hết trên mái ngói cong có đầu đao uốn lên như sừng thú. Xung quanh không khí lành lạnh, thoảng mùi rơm ẩm trộn với mùi bùn non ở đáy giếng, khác hẳn mùi bụi phấn cùng giấy mực tôi vẫn ngửi mỗi ngày ở trường. Tôi đứng dậy, hai chân tê rần. Nhìn quanh, tôi không thấy trường học hay chiếc bàn chấm bài đâu cả, chỉ có một khoảng sân lạ hoàn toàn khác với chỗ làm việc tối qua. Tôi ngồi thụp xuống một lúc, cố nhớ xem đêm qua mình đã làm gì trước khi thiếp đi. Trong đầu tôi chỉ còn nhớ ánh đèn bàn cùng tiếng quạt trần kêu è è, ngoài ra không còn gì khác.
Theo lối hành lang lát gạch đi vòng ra phía trước, tôi gặp một người phụ nữ đứng tuổi đang xếp mấy cái hòm gỗ chất cạnh cổng, hai tay thoăn thoắt buộc lại dây quai. Qua cánh cổng gỗ lớn đang mở hé sau lưng bà, tôi nhìn thấy thêm một lớp sân trong. Bà nhìn tôi từ đầu tới chân, cất giọng hỏi:
— Có phải Kỷ tiên sinh từ phủ thành xuống không?
Chưa đợi tôi đáp lời, bà đã quay ra gọi người khiêng một cái hòm đồ lạ vào phòng chứa củi phía sau bếp. Bà tự xưng là Lưu ma ma, quản việc trong phủ này.
Tôi định mở miệng nói mình không phải Kỷ tiên sinh nào cả. Tôi tên Kỷ Miên, dạy văn cấp hai mười một năm ở một nơi chẳng rõ cách đây bao xa. Mẩu chuyện ấy nghẹn lại ngay đầu lưỡi. Tôi biết rõ trên đời này không ai tin nổi, ngay cả bản thân vừa tỉnh dậy cũng chưa dám tin là thật. Tôi trầm mặc, để Lưu ma ma dẫn đi.
Bà đưa tôi lên nhà chính. Ở đầu bàn ăn sáng, một người phụ nữ trạc tuổi tôi đang ngồi lưng thẳng tắp, hai tay đặt gọn trên đùi, mái tóc vấn cao gọn gàng không một sợi lệch. Trên bàn bày một nồi cháo còn nghi ngút khói, mấy đĩa dưa muối cùng cái ấm trà đồng đã cũ màu. Lưu ma ma cúi đầu thưa Kỷ tiên sinh đã tới, sau đó lùi sang một bên đứng chờ. Tôi đứng nép một bên bàn, hai tay chắp trước bụng, cố học theo dáng đứng của Lưu ma ma cho đúng lễ nghi. Người phụ nữ ấy nhìn tôi từ đầu xuống chân, ánh mắt dừng lại ở đôi giày lấm bùn một lúc rồi cất giọng hỏi:
— Tiên sinh dạy được mấy quyển?
Tôi đáp:
— Dạ, được.
Tôi không nói rõ quyển gì, vì chưa biết ở chỗ này người ta gọi sách vở là quyển gì, chỉ mong câu trả lời cộc lốc như vậy đủ để bà không hỏi tiếp. Bà gật đầu, không hỏi thêm câu nào nữa, quay sang dặn Lưu ma ma:
— Cho tiên sinh một bát dưới bếp, coi như xong bữa sớm nay.
Bốn cô gái đứng ở hiên nhà nhìn ra, người lớn nhất chừng mười sáu tuổi, đứa nhỏ nhất chắc mới mười ba. Cô lớn nhất không chào, đứng khoanh tay nhìn tôi như nhìn một món đồ vừa được khiêng vào nhà. Cô thứ hai cúi đầu chào rồi lùi lại nửa bước, ánh mắt vẫn không rời tôi. Cô thứ ba cất tiếng chào tôi liền hai lần, lần sau to hơn hẳn lần trước, giọng nói gấp gáp. Cô bé nhỏ nhất không chào ai cả, cất giọng hỏi to:
— Tiên sinh có mang bánh phủ thành xuống không?
Tiếng nói vang khắp sân khiến người phụ nữ ở đầu bàn phải liếc mắt sang. Bà chưa kịp mắng, cô thứ hai đã khẽ kéo tay đứa nhỏ nhất ra hiệu im lặng.
Lưu ma ma dẫn tôi xuống bếp, múc cho tôi một bát cháo nguội hơn hẳn nồi trên nhà chính rồi đứng chờ tôi ăn xong mới dọn bát đi. Căn bếp tối hơn nhà chính nhiều, khói củi ám đen cả xà ngang. Một bà bếp già đang cời lửa liếc nhìn tôi một cái rồi lại cúi xuống làm tiếp, không hỏi han câu nào. Tôi ngồi ăn trên chiếc ghế đẩu kê sát cửa bếp. Bát cháo nguội ăn cùng đĩa dưa muối mặn chát, ăn xong tôi mới dám đứng dậy. Lúc này tôi mới nghe gọi tên bốn cô gái là Tô Vân, Tô Nghiên, Tô Tịch và Tô Linh, đều là con gái của chủ nhà. Người phụ nữ ngồi đầu bàn tên Trịnh thị, mẹ của cả bốn người, gia nhân trong phủ đều cúi đầu gọi là phu nhân. Không ai nói cho tôi biết ông chủ nhà là ai, làm nghề gì. Tôi cũng không dám mở miệng hỏi, vì sợ lộ ra những điều mà một người được mời tới dạy lẽ ra phải biết từ trước.
Lưu ma ma dẫn tôi ra phòng chứa củi. Bà chỉ cho tôi một chỗ trên đống củi khô đã dọn gọn có trải sẵn tấm chiếu cũ, bảo đây là chỗ ngủ tạm cho tới khi thu xếp được phòng khác. Lưu ma ma dặn:
— Sáng mai đúng giờ Thần, bốn tiểu thư ngồi chờ sẵn ở sân gạch. Tiên sinh ra đó là dạy luôn, không cần chuẩn bị gì thêm, sách vở thầy cũ để lại có đủ cả rồi.
Tôi hỏi thêm sách vở để ở đâu. Bà chỉ tay ra phía sân gạch, bảo ở đó có sẵn cái bàn cũ, cứ ra là thấy. Tôi hỏi thầy cũ đi đâu rồi. Bà đáp gọn:
— Đã thôi việc.
Nói xong, bà quay người bước ra, tay xách theo chiếc đèn dầu đang cháy dở.
Tôi ngồi xuống mép chiếu, nhìn quanh căn phòng nhỏ. Một góc chất đầy củi khô xếp thành đống cao gần bằng người, góc kia là mấy cái hòm mây phủ vải bạc màu. Căn phòng không có cửa sổ, chỉ mở một khe hở trên vách để lấy ánh sáng ban ngày. Trong không khí vương vất mùi gỗ ẩm lẫn mùi khói bếp. Dưới bếp vang lên tiếng người dọn nốt mấy chiếc bát cuối cùng rồi tắt đèn, tiếng chó sủa xa xa ngoài tường rào cũng im hẳn.
Trước khi nằm xuống, tôi bước ra sân sau, tới đúng miệng giếng nơi mình tỉnh dậy hồi sáng. Đứng nhìn xuống mặt nước tối om không soi rõ thứ gì, tôi chỉ nghe thấy tiếng gió lùa qua miệng giếng kêu ù ù rất khẽ. Tôi không có nghề nào khác ngoài dạy chữ. Mười một năm nay tôi chỉ biết đứng lớp, chấm bài, soạn giáo án. Ngoài chuyện đó ra tôi chẳng biết làm gì để sống, trong tay không một đồng bạc, xung quanh không một ai biết mặt mình thật. Tôi đứng đó một lúc lâu, tay vịn thành giếng lạnh ngắt. Sau đó tôi quay vào, nằm xuống đống củi rồi kéo tấm chiếu cũ lên qua vai, nhắm mắt lại nhưng không ngủ được.