Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 6 phút
Sáng sớm, Tô Trọng Kỳ gọi Tô Vân và tôi lên, giao cho hai đứa ôm mấy quyển sổ hộ mới chép xong mang sang cửa quan nộp thay ông. Lão gia đưa kèm theo một chữ ký để tôi được phép ra khỏi cổng phủ theo đúng lệ mới đặt từ hôm công đường. Tôi ôm chồng sổ đi trước, Tô Vân đi bên cạnh ôm phần còn lại. Hai đứa chỉ nghe tiếng guốc mộc gõ đều trên nền đất còn đóng sương sớm. Hơi thở phả ra thành khói mỏng trong cái lạnh cuối năm.
Từ hôm công đường tới nay, đây là lần đầu tiên tôi được ra khỏi cổng phủ. Cứ đi vài bước, tôi lại lần tay tìm tờ giấy có chữ ký giắt trong vạt áo, sợ lỡ bị hỏi tới mà không có sẵn trình ra. Tới gần cửa quan, mùi khói bếp từ mấy quán hàng ven đường bay lẫn vào không khí lạnh. Tôi thấy một đám người đang đứng vòng quanh cột cổng. Có người chỉ trỏ. Có người đọc thành tiếng cho người bên cạnh không biết chữ nghe theo. Bất chợt, một ông lão chống gậy hỏi to người đứng cạnh:
— Thư lại là làm gì, có phải như sư gia không?
Người kia đáp qua loa:
— Sư gia khác, thư lại khác.
Người đó nói xong lại chăm chú đọc tiếp. Cột cổng dán một tấm bảng mới, giấy còn trắng tinh chưa ố màu mưa nắng như những tấm bảng cũ vẫn dán quanh đó. Nội dung ghi khảo hạch thư lại cửa quan huyện, tổ chức vào mùng tám tháng hai năm sau, đơn nộp trước rằm tháng chạp, lấy ba người trúng tuyển trong số người dự.
Tôi đặt chồng sổ hộ xuống bàn cho một thư lại đang ngồi trực nhận. Cả buổi sáng cắm cúi ghi chép không nghỉ, tay ông ta dính đầy mực đen loang lổ. Lật qua vài trang đếm đủ số, ông gật đầu bảo:
— Đủ rồi, về nói với đại nhân là huyện đã nhận.
Xong việc, tôi quay lại đứng cạnh cột cổng đọc tấm bảng. Mắt lướt từ đầu tới cuối một lượt, tôi đọc lại lần hai chậm hơn. Nét chữ trên bảng chạy đều tăm tắp từ dòng đầu tới dòng cuối. Không một chỗ nào chậm lại. Không một chữ nào bị chen thêm vào sau. Không một nét nào đậm nhạt khác nhau như tay người viết đang phải nghĩ ngợi giữa chừng. Mười một năm chấm hàng nghìn trang chép của trẻ con, tôi biết rõ chỗ ngập ngừng trông ra sao. Nó luôn để lại một vết, một chữ viết to hơn bình thường, một nét bút dừng lại rồi mới đi tiếp, đôi khi cả một vết mực nhoè vì tay dừng quá lâu. Tấm bảng này không có lấy một vết như vậy ở đâu cả. Từ dòng đầu tới dòng cuối đều một hơi bút, một sức tay. Hạ bút xuống, người chép nó không hề đắn đo gì cả. Họ chỉ chép lại y nguyên một tấm bảng cũ đã có sẵn từ trước, đúng như Lý sư gia từng khoe ngoài cửa quan năm nào. Bốn mươi mốt năm nay bảng nào dán ở đây cũng chép y nguyên bảng trước đó, không sai một chữ.
Tôi đọc lại từng dòng một lần nữa, tìm xem có chỗ nào ghi rõ phải là nam mới được nộp đơn dự thi hay không. Không có dòng nào như vậy trên cả tấm bảng. Dò tới đâu cũng chỉ thấy ngày thi, chỗ nộp đơn, và số người được lấy. Bốn mươi mốt năm liền câu đó chưa từng được viết ra, vì chưa có ai nghĩ tới chuyện một người con gái biết chữ đủ để đứng ra dự thi lấy chức thư lại. Tay vẫn còn lạnh vì sương sớm, tôi trầm mặc đứng một lúc trước tấm bảng. Trong lòng vừa mừng vừa sợ. Mừng vì thấy một khe hở thật sự chưa ai bịt lại. Sợ vì không chắc khe hở ấy có đủ rộng để lọt qua hay không, hay chỉ mở ra đúng một lần rồi đóng sập lại ngay khi có người để ý. Đám đông quanh cột cổng vẫn đứng bàn tán. Có người đọc lại tên ngày thi cho nhau nghe tới lần thứ hai thứ ba, giọng ai cũng chỉ xoay quanh chuyện con trai nhà mình có nên nộp đơn hay không, không một ai nhắc tới chuyện con gái.
Tôi quay sang Tô Vân, đọc lại to hai câu cuối của tấm bảng cho nó nghe rõ. Giọng cố giữ cho bình thường như đang đọc một bài tập trên lớp. Tô Vân đứng sững lại, mắt dán chặt vào tấm bảng. Hai tay buông thỏng chồng sổ hộ xuống bên hông lúc nào không hay, môi mấp máy không thành tiếng, nó đọc thầm theo miệng ba lần liền. Vẻ mặt đổi qua mấy lần trong chớp mắt, nó ngước mắt quay sang hỏi:
— Đơn xin dự thi nộp ở bàn nào, thưa tiên sinh?
Tôi chỉ tay về phía dãy bàn nhận đơn phía trong sân. Tô Vân hỏi tiếp ngay câu thứ hai:
— Ai được cầm đơn tới nộp, có phải cứ ai cũng nộp được không?
Giọng thấp xuống dù xung quanh vẫn ồn ào tiếng người, tôi đáp:
— Bất cứ ai cũng nộp được, miễn đơn viết đúng lệ và nộp trước rằm tháng chạp.
Giọng đã bình tĩnh trở lại, Tô Vân hỏi tiếp câu thứ ba:
— Đề thi có khó không, tiên sinh có biết không?
Tôi lắc đầu đáp:
— Ta cũng chưa biết đề ra sao.
Tấm bảng chỉ ghi ngày thi và số người lấy, còn khó tới đâu thì phải tới ngày mới rõ được. Tô Vân gật đầu, môi mím lại thành một đường thẳng, mắt vẫn không rời khỏi tấm bảng. Nhìn nó, tôi nhắc thêm một câu:
— Chuyện này phu nhân sẽ biết ngay trong ngày, nhà mình không có gì giấu được lâu.
Tô Vân quay sang nhìn tôi thẳng, đáp gọn, không chút do dự:
— Tôi biết. Tôi tự đi nộp, không cần ai đi cùng.
Nói xong, nó xoay người bước hẳn về phía dãy bàn nhận đơn, dáng đi nhanh và cứng hơn hẳn dáng đi lúc từ phủ ra tới đây. Đứng lại một mình bên cột cổng, tôi ôm nguyên chồng sổ hộ còn sót lại chưa kịp mang vào nộp hết. Mắt tôi dõi theo bóng nó khuất dần giữa đám người vẫn còn đứng bàn tán quanh tấm bảng. Tà áo màu xanh lam của nó nổi hẳn lên giữa một rừng áo nâu áo xám.