Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 6 phút
Mười ngày sau bận anh về nói nhận thêm ca đêm ở kho lạnh, Kỷ Vãn thức giấc lúc bốn giờ mười lăm sáng. Trong phòng không có tiếng động nào khác. Cái áo khoác xám vắt trên thành ghế vẫn còn nguyên đường rách ở khuỷu tay chưa ai vá lại. Cô xỏ giày, khoác thêm lớp áo mỏng rồi bước ra ngoài. Hành lang tối đen, chỉ có ánh đèn vàng vọt hắt ra từ khe cửa mấy phòng khác. Cầu thang bốn tầng vắng tanh, tiếng bước chân cô vang lên rõ mồn một giữa khoảng không im ắng.
Ở đầu ngõ, bà Hoắc đang đẩy cái xe hàng nặng trịch ra khỏi khe tường nơi vẫn cất qua đêm. Bánh xe cọt kẹt lăn trên nền xi măng ướt sương, hơi lạnh cuối thu làm hai tay bà đỏ ửng vì cóng. Mười ngày nay anh chồng ca đêm kho lạnh lên ca kho ban ngày, sáng nào cũng đi khỏi phòng trước bốn giờ. Trong khi đó, cô vẫn chưa kiếm ra một đồng nào để bù vào tiền phòng tháng sau. Kỷ Vãn bước tới đỡ lấy thành xe, cất lời: - Cho tôi đứng ca sáng này, ca nào cũng được, tôi làm không so đo giờ giấc. Bà Hoắc không đáp lời ngay. Đẩy xe thêm mấy bước nữa bà mới dừng hẳn, đưa mắt nhìn cô từ đầu xuống chân một lượt, không gật cũng chẳng lắc.
Bà đẩy xe đi trước, Kỷ Vãn lẳng lặng theo sau một quãng, không dám bắt chuyện thêm khi bà chưa ừ hử câu nào. Con đường ra chỗ đặt quầy vòng qua một khoảng đất trống. Nơi đó dựng tấm biển tôn cũ ghi tên xưởng linh kiện điện Hạc Nguyên, chữ sơn đã bạc màu, một góc biển gỉ sét cong vênh khỏi khung sắt. Ngang qua tấm biển, cô liếc mắt nhìn một cái rồi cúi xuống nhìn con đường lồi lõm, rảo bước nhanh hơn để không tụt lại sau xe hàng.
Tới nơi, bà Hoắc còn chưa dựng xong bạt che, Kỷ Vãn đã xắn tay áo bê từng chồng xửng tre xuống đất. Cô chủ động mở nắp đếm số bánh bao còn nguyên trong mỗi xửng trước khi bà kịp lên tiếng nhờ. Sáu xửng đủ sáu chục cái, không thiếu không thừa. Cô xếp lại ngay ngắn theo đúng thứ tự cũ, hơi nóng còn vương trong lớp vải bọc ngoài ủ ấm hai bàn tay đang cóng vì sương sớm. Trời vẫn còn tối. Ngọn đèn treo trên càng xe chỉ hắt một quầng sáng vàng nhỏ xuống mặt đường, hơi thở của hai người phả ra trắng đục trong quầng sáng ấy.
Dựng xong bạt, bà Hoắc nhìn chỗ bánh đã đếm gọn gàng, không khen lấy một tiếng. Bà rút từ túi tạp dề ra cuốn sổ, viết vào đó mấy chữ rồi đếm chín tờ mười tệ đưa cho cô. Cuốn sổ còn cầm trên tay chưa gấp lại, bà Hoắc nói: - Ứng trước, cuối ca trừ vào công. Sáng nay trong túi Kỷ Vãn không có lấy một đồng tiền mặt. Cô lùi lại một bước, không nhìn rõ dòng chữ bà vừa viết, chỉ kịp thấy mấy nét bút bi đỏ ngắn ngủn trên trang giấy trước lúc cuốn sổ bị gấp lại, cất về chỗ cũ.
Từ ngăn dưới cùng của xe, bà Hoắc rút ra một cái kẹp tiền bằng kim loại đã mòn bóng hai cạnh. Phần lò xo kẹp đã lỏng hẳn vì dùng lâu năm. Bà đẩy nó qua cho Kỷ Vãn cùng một nắm tiền lẻ, toàn những tờ một tệ và năm tệ nhàu nát. Mấy tờ một tệ sờn mềm gần đứt ở nếp gấp, lẫn vào đó vài đồng xu năm hào kêu lách cách mỗi khi kẹp bị lắc. Không dặn dò gì thêm, bà bê thùng đũa dùng một lần đặt lên đầu kia cái bàn gỗ kê tạm bên cạnh xe, đứng luôn ở đó dỡ chồng bát đũa xếp lên mặt bàn, cách chỗ cô cầm tiền đúng một sải tay.
Cầm nắm tiền lên, tay Kỷ Vãn tự động tách riêng từng loại. Cô xoay mặt in hình tất cả về cùng một chiều, tờ mệnh giá chẵn xếp xuống dưới, tờ mệnh giá lẻ xếp lên trên, đúng hệt thói quen ở quầy thu ngân chuỗi Kỷ Thịnh ngày còn phụ bố những buổi hè. Kẹp gọn xấp tiền lại, cô đưa mắt kiểm một lượt cho thẳng hàng rồi mới đặt kẹp vào hộc gỗ nhỏ dưới mặt bàn. Xong xuôi, cô lau hai bàn tay vào vạt áo cho khô sương, với tay xoay ngọn đèn trên càng xe để quầng sáng rọi thẳng xuống mặt bàn gỗ.
Tiếng bát chạm nhau ở đầu bàn bên kia đã im bặt từ lúc cô mới xoay mặt tờ tiền thứ ba. Bà Hoắc đứng trân trân nhìn xấp tiền chẵn dưới lẻ trên. Mất đúng một nhịp thở dài, bà mới cúi xuống xếp tiếp chồng bát dở dang. Đặt nốt chồng bát vào sát mép bàn, bà kéo vạt tạp dề lau hai tay, đứng thẳng người nhìn ra đầu ngõ. Tay đã bắt vào việc khác, bà Hoắc cất giọng cụt lủn: - Đếm lại xửng bánh lần nữa cho tôi, đủ sáu chục cái là được, thiếu cái nào phải nói ngay. Tay vẫn mở nắp cái xửng trên cùng đếm lại từ đầu, Kỷ Vãn đáp: - Sáu chục, tôi đếm lúc bê xuống rồi.
Suốt buổi, bà chỉ nói đúng những câu cần cho công việc: tính tiền, gọi số bánh còn lại, thỉnh thoảng gõ tay lên thành xe ra hiệu chỗ khách đang đợi. Đàm Hạc hết ca đêm ở kho lạnh là vào thẳng ca kho năm giờ sáng, cả buổi không có mặt ở khu Cẩm Đường. Lúc cô rời phòng, chiếc chăn trên giường bên cạnh vẫn còn nguyên nếp gấp từ tối hôm trước. Trời sáng rõ, khách qua lại mua bánh bao đông dần lên. Có người trả tiền chẵn, có người đưa tờ năm chục cần thối lại. Mỗi lần như vậy, tay Kỷ Vãn lại thuần thục đưa vào hộc gỗ đựng kẹp tiền.
Đến chín rưỡi hết ca, Kỷ Vãn xếp lại kẹp tiền lần cuối trong ngày theo thứ tự chẵn dưới lẻ trên rồi đưa qua cho bà Hoắc. Dù bà chưa kịp cầm lấy, tay cô vẫn không vội rút về. Bà Hoắc đưa tay đỡ lấy kẹp tiền, dưới ánh nắng đã lên cao, bà đếm lại từng tờ một lượt rồi mới gật đầu dứt khoát, cất hẳn vào ngăn kéo phía trong xe. Sáng hôm sau, bà Hoắc lại rút đúng cái kẹp tiền ấy ra khỏi ngăn kéo, đặt vào tay Kỷ Vãn trước lúc mở quầy, những ca sau cũng đều như vậy.