Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 5 phút
Sáng sớm hôm ấy, tôi dậy sớm hơn thường lệ. Đi ngang qua gian ngoài, tôi thấy cô đã gấp gọn tấm chăn mỏng của mình, đặt ngay ngắn trên chiếc ghế kê cạnh phản gỗ, không để lộn xộn như đồ đạc ở tạm. Tấm chăn mỏng đến mức nhìn xuyên thấy cả ánh ban mai lọt qua lớp vải, khác hẳn mấy tấm chăn dày cất trong tủ mà cô chưa một lần mở ra dùng. Một tay cô xách cái ô doa nhựa cũ, rảo bước ra phía cửa sau dẫn xuống vườn, tay kia vắt chiếc khăn qua vai để lau mồ hôi. Tôi đứng khựng lại ở bậc cửa nhìn theo, chưa kịp lên tiếng hỏi cô định đi đâu vào giờ này.
Thấy tôi, cô dừng bước, quay đầu gấp gáp nói: - Luống thứ tám khô rồi, phải tưới trước khi nắng lên chứ để trưa là mầm chết hết.
Tôi lập tức hỏi: - Sao cô biết luống nào trồng gì mà tưới đúng chỗ vậy?
Cô không trả lời, chỉ cúi đầu bước tiếp về phía vườn, dáng đi dứt khoát như đã quen thuộc lối này từ lâu. Tôi đứng sững lại ở bậc cửa một lúc.
Tôi đi theo cô ra tới vườn, lần đầu tiên nhìn nơi này bằng con mắt của người làm nghề thẩm định nhà, chứ không phải đứa con lớn lên từ nhỏ trong sân. Suốt hai năm nay, người trong cả ngõ vẫn đi ngang qua khu vườn này. Ông Phó tới xét hộ khẩu từng đứng ngay lối đi, bà Vệ sáng nào đi chợ cũng ngó qua hàng rào, nhưng chưa ai từng dừng lại nhìn kỹ hơn một cái liếc mắt. Mười một luống rau trải dài từ chân tường tới hàng rào cuối vườn, luống nào cũng ngay ngắn, đất tơi đều, không luống nào bỏ hoang ngoài luống thứ tám đang trồng dở. Tôi bước dọc theo lối đi, nhìn xuống khoảng cách giữa từng luống. Ngay khi bước qua luống thứ sáu sang luống thứ bảy, tôi nhận ra một điểm bất thường. Từ luống thứ bảy trở đi, khoảng cách giữa hai luống liền nhau hẹp lại rõ rệt, chừng hai đốt ngón tay so với sáu luống đầu, đủ để người để ý kỹ như tôi nhận ra ngay không cần đo bằng thước.
Tôi ngồi thụp xuống, vươn tay sờ vào mặt đất ở luống thứ chín. Nếp gờ đất được đắp theo một nhịp ngắn và tròn, khác hẳn nếp gờ dài và thẳng ở sáu luống đầu phía trên. Nếp gờ này lặp lại đều tăm tắp từ luống bảy tới luống mười một, cùng một nhịp tay, cùng một độ sâu, không thể lẫn với mấy luống do bố tôi lên. Cái cuốc dài bố tôi vẫn dùng đang dựng ở góc rào từ hôm tôi mới về, chỉ lên được nếp gờ dài như ở sáu luống đầu, không thể tạo ra nếp ngắn trước mắt. Tôi lần sang luống thứ chín, cúi hẳn xuống nhìn kỹ lớp lá mục đắp ở rìa luống. Lớp lá đã mục nhũn toàn bộ, không còn giữ được hình dáng của một chiếc lá nguyên vẹn. Lớp lá mục thế này phải nằm ở đó ít nhất qua hai mùa mưa liên tiếp mới rã tới mức này, không phải thứ mới đắp lên gần đây.
Tôi đứng thẳng dậy giữa hai luống rau. Trong đầu tôi, hai dữ kiện xếp chồng lên nhau: khoảng cách luống hẹp hơn, nếp cuốc ngắn khác hẳn nếp cuốc của bố, cùng lớp lá mục đã qua hai mùa ở luống thứ chín. Chỉ có một kết luận hợp lý: từng có bàn tay thứ hai làm việc ở chính khu vườn này, và người đó đã làm từ rất lâu trước khi bố tôi qua đời, chứ không phải mới gần đây. Tôi trầm mặc đứng lặng giữa vườn hồi lâu. Nắng sớm bắt đầu nhô cao sau rặng cây, chiếu xuống đúng luống thứ tám nơi cô vẫn đang lúi hụi tưới nước bằng cái ô doa cũ.
Nhất thời, tôi tự gán cho hai dữ kiện một cách hiểu: cô đã để mắt tới căn nhà này từ hai năm trước, lui tới thường xuyên đủ để thuộc lòng từng luống rau trong vườn nhà người khác. Ý nghĩ đó làm tôi lập tức nóng mặt. Tôi bước nhanh lại chỗ cô đang tưới, gằn giọng nói: - Từ nay cô không được đụng vào bất cứ luống nào trong vườn này nữa!
Cô ngước mắt nhìn tôi một lúc, tay vẫn cầm cái ô doa đang đổ dở. Cô không cãi một câu, chỉ lặng lẽ đặt ô doa xuống đất ngay cạnh chân mình rồi quay vào nhà. Tôi đứng nhìn theo.
Bốn ngày liền sau hôm ấy, không ai ra vườn tưới nước nữa. Tôi bận đi làm cả ngày, còn cô không dám bén mảng lại gần sau câu tôi nói. Cái ô doa cô đặt xuống hôm đó vẫn nằm nguyên chỗ cũ cạnh luống thứ tám, không ai cất vào chỗ khuất mưa nắng. Luống thứ tám khô dần từng ngày. Lớp đất trên mặt bắt đầu nứt thành từng đường chân chim nhỏ, mấy cái mầm non ở đầu luống héo quắt lại, lá quăn tròn mất hết dáng thẳng vốn có. Trong bốn ngày đó, tôi đi ngang qua vườn mấy lượt. Dù nhìn thấy luống rau héo dần, tôi vẫn không đổi ý, khoanh chặt tay trước ngực mỗi lần liếc qua khung cảnh ấy.
Từ luống thứ bảy trở đi có một bàn tay thứ hai đã lên luống, và bàn tay ấy đã làm việc trong khu vườn này qua ít nhất hai mùa trước khi bố tôi mất, sớm hơn nhiều so với cái mốc hai năm tôi vừa nghĩ ra. Tôi cấm cô ra vườn ngay sáng hôm đó. Đúng bốn ngày sau, mầm non ở đầu luống thứ tám quăn hết lá lại, khô rạp xuống nền đất nứt nẻ mà không còn ai tưới cho một giọt nước nào.