Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 4 phút
Bốn giờ sáng, tôi một mình ngồi ngoài sân. Tôi không bật đèn, chỉ có ánh trăng cuối tháng rọi mờ xuống mặt giếng, loang một vệt sáng nhạt lên nền xi măng. Tựa lưng vào thành giếng lạnh, tay tôi vẫn cầm cuốn sổ công tác mở từ tối qua chưa gấp lại. Vì ngồi im quá lâu trên nền đất ẩm sương, hai chân tôi đã tê cứng. Đúng lúc tôi định đứng dậy đi vào, cô bước qua cổng. Trong không gian yên tĩnh, tiếng bản lề cổng sắt kẽo kẹt vang lên rõ mùng mọt. Thấy tôi ngồi đó trong bóng tối, cô khựng lại một nhịp ngay giữa sân. Cô chậm rãi bước tới gần, không hỏi vì sao tôi còn thức. Áo cô vương mùi dầu ăn. Đó là mùi ca đêm quen thuộc ở quán Lão Tiết mà lần nào cô về muộn tôi cũng nhận ra.
Tôi hỏi cô đúng một câu: - Bố dặn cô cái gì? Tôi cố giữ giọng thật bình thường, dù tay đang siết chặt gáy cuốn sổ. Cô đứng sững lại ngay giữa sân, hai tay vẫn ôm cái túi đi làm trước ngực. Ánh mắt cô nhìn thẳng vào tôi hồi lâu, chưa đáp ngay. Ngoài sân, gió đêm thổi nhẹ lay mấy tàu lá chuối sau bếp kêu lạt xạt. Tôi vẫn lặng yên ngồi chờ, không hỏi thêm câu nào. Tôi không giục, cũng không nhắc lại lần thứ hai.
Cô ngồi xuống bậc thềm đối diện tôi, hai tay đặt lên đầu gối, giọng đều đều không ngập ngừng một chữ: - Ông dặn cô ở đủ một trăm ngày rồi đi. Ông dặn thêm, quá một trăm ngày thì cô phải đi, đừng để nó quen. Tôi ngồi nghe hết câu ấy. Tay tôi siết chặt lấy cuốn sổ công tác cho tới khi các đốt ngón tay trắng bệch. Đúng con số một trăm tôi vừa đếm ra đêm qua giờ nằm gọn trong miệng cô. Một lúc lâu, tôi không nói thêm được gì, chỉ nghe rõ tiếng nước nhỏ giọt từ đáy giếng vọng lên. Ngoài sân, sương đêm đọng thành giọt trên mấy luống rau gần hàng rào, gặp cơn gió nhẹ liền rơi lộp độp xuống đất.
Tôi hỏi cô vì sao không nói chuyện này từ hôm cái túi soạn lần đầu vào tháng tư, khi cô đã biết rõ cái hạn từ trước cả ngày tôi bắt đầu nghi ngờ. Cô nhìn thẳng vào tôi, nhạt giọng đáp gọn: - Nói ra thì cháu phải giữ cô lại, hoặc phải đuổi cô đi, cô không muốn đẩy cháu vào một trong hai việc đó. Tôi ngồi lặng. Tay cô vẫn đặt yên trên đầu gối, không run, cũng không siết lại, giống hệt dáng ngồi mỗi khi kể chuyện về ông.
Hồi tháng ba, điều kiện thứ ba tôi đặt ra ở sân giếng này vẫn còn nguyên, suốt một trăm ngày đã qua chưa từng dùng tới. Tôi có thể bảo cô đi ngay bây giờ, cũng có thể bảo cô ở lại. Nhưng tôi không làm vậy. Tôi chỉ ngồi yên trên thành giếng, để cả hai điều treo lơ lửng giữa khoảng sân tối chưa kịp sáng hẳn. Cô vẫn ngồi đối diện tôi chờ. Hai chúng tôi ngồi im một lúc. Cúi đầu nhìn xuống hai bàn tay đặt trên gối, tôi mới nhận ra chúng đang run nhẹ, dù tôi đã cố giữ giọng không lộ ra điều đó.
Tôi hỏi cô định đi đâu nếu thật sự phải rời khỏi nhà số 7 này. Cô lặng đi một lúc, mắt nhìn xuống hai bàn tay đan vào nhau trên đùi mới đáp: - Cô chưa nghĩ tới đâu cả. Tôi gật đầu, không hỏi thêm. Sân vẫn còn tối, chỉ có ánh trăng mờ soi rõ đường viền khuôn mặt cô đang cúi nhìn tay mình.
Phía bên kia bức tường rào thấp, mấy con gà nhà hàng xóm gáy rộ lên liên hồi. Sau lưng chúng tôi, trời bắt đầu hửng sáng. Cô đứng dậy trước, phủi tay lên vạt áo. Ánh sáng ban mai đã đủ rõ để lộ quầng thâm dưới mắt cô sau ca đêm không nghỉ. Tôi vẫn ngồi nguyên chỗ cũ bên thành giếng, ngước mắt nhìn cô. Hai vai cô hơi chùng xuống như vừa trút được gánh nặng. Cô không nói thêm câu nào, quay người bước vào bếp. Dáng đi của cô vẫn thẳng như mọi buổi sáng từ trước tới giờ. Tôi nhìn theo bóng cô khuất dần sau cánh cửa bếp.
Từ trong bếp, tiếng nồi cơm điện bật nấc vọng ra tới tận sân. Phía sau nhà, mùi gạo mới vo lan theo làn khói mỏng bốc lên từ chiếc ống khói nhỏ. Tôi ngồi thêm một lúc lâu ngoài sân, không vào theo. Cái túi vải xám trong gian ngoài vẫn buộc miệng chặt từ hôm qua, chưa ai động vào, nằm im ở chỗ cũ. Ánh nắng đầu ngày lan tới góc sân, chiếu qua khung cửa gian ngoài đang khép hờ, rọi lên đúng chiếc túi vải xám.