Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 6 phút
Sáng tôi mang phần cơm cháo sang khu Đông Giao cho mẹ chồng như mọi ngày, ngồi bón từng thìa cháo, đợi bà nuốt xong mới đưa thìa tiếp theo, kiên nhẫn chờ từng nhịp thở của bà trước khi múc thìa kế tiếp. Cháo hôm nay tôi ninh với ít bí đỏ nghiền nhuyễn cho dễ nuốt, mùi thơm bốc lên khiến bà chớp mắt liên hồi. Xong bữa tôi lau người thay áo cho bà trước khi quay lại tiệm mở hàng, thay luôn cả tấm ga trải giường vì đêm qua trời nóng bà ra mồ hôi nhiều, gấp gọn tấm cũ mang về nhà giặt cho đỡ mất công người khác. Tôi còn tranh thủ quét qua nền nhà, dọn mấy cái ly nước để bừa trên bàn từ đêm qua. Tay bà cử động được có một bên, mỗi lần tôi lau xong bà hay nắm lấy tay tôi một chút rồi mới buông, tôi quen với cái nắm tay đó ba năm nay, bàn tay gầy guộc mà vẫn còn chút hơi ấm truyền sang tay tôi.
Trưa vãn khách, tiệm chỉ còn vài bàn lác đác, hai người khách cuối đang ăn nốt bát canh, mùi cơm cháy còn vương trong không khí. Tôi lau vội hai cái bàn còn dính vụn cơm trước khi quay lại đứng sau quầy. Thời Nghiêm bước vào, đứng ngay quầy:
— Cho anh mượn năm nghìn tệ, Mạn Thư.
Giọng vẫn khô như lần trước, không có vẻ gì ngượng ngùng thêm, cũng không có lời chào hỏi mở đầu nào cả. Số tiền ấy tôi để riêng, gói cẩn thận trong một cái phong bì nhỏ, dành đóng viện phí kỳ này cho mẹ, tôi đã tính sẵn ngày mai mang đi nộp cho kịp hạn, tránh để dồn sang tháng sau thành khoản lớn hơn. Tôi hỏi lại:
— Anh cần gấp tới mức nào, có đợi được tới cuối tuần không, hay nhất định phải là hôm nay mới xong việc?
Anh chỉ đáp:
— Cần trong hôm nay.
Không nói thêm lý do gì khác, cũng không giải thích vì sao lại gấp tới vậy, mặt vẫn giữ nguyên cái vẻ bình thản khó chịu ấy.
Tôi mở ngăn kéo lấy phong bì ra, đếm đủ năm nghìn, rồi ném cả xấp tiền lên mặt bàn thay vì đưa tận tay như mọi lần, tiếng giấy bạc chạm gỗ nghe gọn và lạnh. Đây là lần đầu tiên trong ba năm tôi to tiếng với anh.
— Anh bỏ đi biệt tăm ba năm trời, giờ về đứng ở cửa tiệm này thì lấy cái tư cách gì mà mở miệng vay tiền hết lần này tới lần khác? Anh có biết số tiền đó em để dành đóng viện phí cho mẹ anh hay không, hay là anh tưởng tiền ở đây mọc ra từ đất, tưởng em ngồi không cũng có tiền tiêu?
Mấy bàn khách còn lại trong tiệm im bặt, có người còn cố tình cúi thấp xuống bát cơm để khỏi phải nhìn thẳng vào cảnh này. Anh đứng im, không trả lời câu hỏi đó, chỉ cúi xuống cầm lấy xấp tiền, gấp gọn nhét vào túi áo, định quay người bước ra.
Tôi bước tới chặn trước mặt anh, kéo cái ghế gần nhất ra:
— Anh ngồi xuống ăn hết một suất cơm rồi mới được đi, không đứng lì ở cửa như người xa lạ ghé qua xin đồ rồi biến mất ngay như vậy.
Tôi múc cho anh một suất đầy hơn bình thường, phần thịt kho để nguyên miếng to nhất trong nồi, phần mà mọi khi tôi vẫn để dành bán cho khách trả giá cao hơn, đặt xuống trước mặt anh mạnh tay hơn cần thiết. Anh nhìn tôi một lúc lâu, ánh mắt có gì đó khó đoán, rồi ngồi xuống thật, cầm đũa ăn từng miếng chậm rãi, không nói thêm câu nào, mắt cứ nhìn xuống bát cơm, thỉnh thoảng đũa dừng giữa chừng rồi mới gắp tiếp.
Áo khoác anh mặc hôm đó ướt sũng vì dính mưa từ lúc nào, vai áo bạc màu càng thêm rõ khi thấm nước, tôi cầm lấy đem ra sau giặt tạm cho khô bớt trước khi anh về, sợ anh mặc áo ướt ra đường lại cảm lạnh giữa mùa này. Lúc lộn túi áo ra, tôi chạm phải một vật cứng, lôi ra thì là một cái chìa khoá cửa cuốn, không giống bộ chìa nhà họ Lục tôi vẫn cầm, cũng chẳng phải bộ chìa của tiệm mình, đầu chìa còn mới, chưa mòn góc cạnh nào, không có dấu vòng chìa nào đi kèm để nhận biết. Tôi cầm cái chìa lên xem kỹ một lúc, xoay qua xoay lại dưới ánh đèn, lật tìm thêm lần nữa xem có vết khắc hay ký hiệu nào không nhưng chẳng thấy gì, không biết nó mở cửa nhà nào, rồi đặt nó lên bậu cửa sổ, ngay chỗ anh dễ nhìn thấy nhất khi ăn xong đứng dậy, cố tình để lộ giữa chỗ sáng nhất.
Anh ăn xong, đứng dậy, nhìn thấy cái chìa nằm trên bậu cửa sổ, cầm lấy bỏ ngay vào túi quần, không nói đó là chìa khoá của đâu, cũng không giải thích thêm lấy một câu. Tôi định hỏi thẳng, nhưng nhìn cách anh tránh mắt tôi, tôi biết có hỏi cũng chỉ nhận lại im lặng, nên thôi không hỏi nữa, quay vào dọn mấy cái bát còn lại trên bàn, để anh tự khoác áo còn hơi ẩm bước ra khỏi tiệm. Trước khi bước hẳn ra cửa, anh dừng lại một nhịp, quay đầu nhìn tôi thêm một lần nữa rồi mới đi hẳn, ánh mắt đó tôi không đoán ra được là áy náy hay chuyện gì khác.
Tối đó tôi ngồi cộng lại sổ sách tới tận khuya, tính đi tính lại vẫn không đủ để đóng viện phí đúng kỳ như dự tính, đành viết một dòng vào sổ, hoãn khoản đó sang tuần sau, bù bằng cách bán thêm mấy suất cơm phần chiều và gọi thêm khách quen đặt trước cho chắc ăn. Tôi lật lại từng trang sổ cũ, xem lại những tháng trước từng phải xoay tiền viện phí ra sao. Tháng mười một năm ngoái tôi cũng phải hoãn một kỳ, sau đó vẫn xoay được. Ngoài trời mưa vẫn còn lất phất, tiếng nước nhỏ giọt xuống mái tôn kêu lộp bộp đều đều bên tai, càng khuya càng nghe rõ hơn giữa cái tiệm đã tắt hết đèn ngoài trừ ngọn đèn bàn tôi đang ngồi. Tay tôi mỏi nhừ vì cả ngày đứng bếp, trong đầu vẫn không thôi nghĩ tới cái chìa khoá lạ kia, một thứ nhỏ bằng lòng bàn tay, kín tới mức tôi không dám chắc mình có nên hỏi tiếp vào lần sau hay không. Tôi ngồi nhìn con số cuối cùng ghi trong sổ, trong đầu vẫn là cái chìa khoá kia. Gấp sổ lại, tôi cất vào ngăn kéo cùng chỗ với cái phong bì tiền viện phí còn dở dang, rồi mới đứng dậy tắt nốt ngọn đèn bàn.