Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 6 phút
Một nhà đặt tiệc ở khách sạn Vân Kiều nhờ tôi làm thêm mấy mâm cỗ nhỏ đãi khách xa tới, giao ngay chiều hôm ấy. Tôi dậy từ trưa, làm liền tay bốn mâm, đậy màn lồng bàn cẩn thận rồi mới chất lên xe kéo. Đẩy tới cổng chính thì bảo vệ chặn lại, bảo xe hàng phải đi vòng ra cửa sau, không được qua sảnh lớn giờ khách ra vào đông. Tôi đẩy xe vòng theo lối chỉ, qua một con hẻm nhỏ sau lưng khách sạn, mùi rác thải trộn lẫn mùi dầu ăn từ khu bếp bốc lên nồng nặc, khác hẳn cái sảnh lát đá hoa cương sáng loáng phía trước.
Tới gần cửa sau tôi khựng xe lại, thấy Thời Nghiêm đứng đó, khoác đúng cái áo bạc vai từ hôm anh mới về, đang nói chuyện với hai người tôi nhận ra ngay là người của Ngũ Vị Quán, vẫn cái dáng đi hai người quen thuộc như hôm họ tới đo gian bếp. Một người trong hai đưa cho anh một tập giấy dày, anh cầm lấy, lật qua vài trang rồi gấp lại nhét vào trong áo. Tôi đứng nép sau cái xe kéo, chờ tới lúc họ bắt tay nhau, hai người kia quay vào trong khách sạn mới đẩy xe tới gần, hỏi thẳng:
— Anh làm gì ở đây với hai người đó?
Thời Nghiêm quay lại, thấy tôi thì hơi khựng, chỉ đáp gọn:
— Đó là việc của anh.
Tôi nhìn thẳng vào mắt anh:
— Việc gì mà phải đứng ở cửa sau, giữa lúc họ đang muốn nuốt cả dãy ngõ Tây Hoè?
Anh không đáp thêm, chỉ đứng im, tay vẫn giữ nguyên tập giấy trong áo, ngón cái miết đi miết lại mép bìa vàng nhạt.
Tôi thò tay vào túi áo khoác của anh, chỗ tôi nhớ hôm giặt áo từng thấy một cái chìa khoá lạ, không thấy anh né tránh nên lục tiếp cho tới khi chạm đúng cái vòng kim loại nhỏ, lôi nó ra giơ lên trước mặt anh:
— Cái này mở cửa nhà ai?
Anh nhìn cái chìa khoá một lúc rồi đưa tay cầm lại, không trả lời câu tôi hỏi, cũng không nói thêm bất cứ điều gì về tập giấy vừa cầm. Tôi đứng chờ thêm mấy giây, hy vọng anh mở miệng, nhưng anh chỉ đứng đó, quai hàm siết lại một chút, mắt nhìn xuống mặt đường chứ không nhìn tôi. Cái im lặng của anh lần này khác hẳn mấy lần trước, không có nửa câu chống chế nào đi kèm, chỉ trơ ra một khoảng trống không ai chịu lấp.
Tôi đẩy xe vào cửa sau giao hàng, đầu bếp khách sạn ra nhận đồ, đếm lại từng mâm rồi ký vào tờ biên nhận tôi đưa. Ông nhấc thử một mâm lên ngửi, gật gù:
— Cỗ chị làm lúc nào cũng đượm mùi hơn cỗ đặt ngoài, khách sang thế này họ để ý mấy cái đó lắm.
Rồi ông dặn thêm lần sau cứ giao trước giờ này nửa tiếng cho kịp bày bàn. Tôi thu tiền, gấp gọn xấp tiền cất vào túi trong, quay ra vẫn thấy Thời Nghiêm đứng nguyên chỗ cũ, hai tay đút túi quần, mắt nhìn về phía cửa sau tôi vừa bước ra. Tôi dừng lại trước mặt anh, nói chậm và rõ từng chữ:
— Từ hôm nay anh không được bước vào cửa tiệm của tôi nữa. Hai người Ngũ Vị Quán cũng vậy, tôi cấm cửa cả hai người đó luôn.
Anh hít vào một hơi rồi thôi, chỉ gật đầu một cái rất khẽ, quay người bước đi về phía ngược lại con hẻm, không ngoái lại lần nào. Bóng anh khuất dần sau góc tường loang lổ rêu, tiếng bước chân cũng nhỏ dần rồi tắt hẳn giữa tiếng xe cộ ngoài mặt phố lớn.
Tôi đẩy xe không về tiệm, dọc đường cứ nghĩ tới cảnh anh cầm tập giấy đó, nghĩ tới việc anh chọn đứng ở cửa sau thay vì đi thẳng vào sảnh chính. Tập giấy anh cầm dày cỡ một cuốn sổ, bìa màu vàng nhạt, loại bìa tôi từng thấy hai người Ngũ Vị Quán mang theo hôm họ tới đo đạc gian bếp tiệm tôi, đứng đo lại đúng khung cửa ra vào, gõ gõ tay lên tường như ướm thử đặt biển hiệu mới, ghi ghi chép chép rồi ra về không nói định làm gì. Nếu anh thật sự đang bán đứng cái tiệm của tôi cho hai người kia, đổi lấy một khoản tiền nào đó để trả nợ, thì cách anh chọn đứng khuất ở cửa sau, không để ai trong ngõ nhìn thấy, lại càng hợp lý hơn bất cứ lời giải thích nào khác tôi có thể nghĩ ra lúc này. Mẹ chồng còn nằm bên khu Đông Giao, cái tiệm mười hai chỗ là chỗ tôi gây dựng bằng tay mình, mất nó vào tay chuỗi cơm kia thì tôi chẳng còn gì để đứng vững nữa.
Về tới tiệm, tôi hạ cửa cuốn, dọn dẹp qua loa rồi ngồi lại một mình bên quầy, lấy quyển sổ tính suất cơm ra, giở tới trang có kẹp tờ đăng ký kết hôn cũ. Tôi rút tờ giấy ra, nhìn cái tên hai người in trên đó một lúc lâu, ngón tay lướt qua từng dòng chữ đã hơi phai màu mực, rồi gấp lại theo đúng nếp cũ, kẹp về đúng chỗ ban đầu trong sổ, không xé nó đi. Tôi tự hỏi mình vì sao chưa từng nghĩ tới chuyện vứt bỏ tờ giấy ấy suốt ba năm.
Đêm đó tôi nằm trằn trọc mãi không ngủ được, nghĩ đi nghĩ lại cảnh anh đứng ở cửa sau, cảnh anh cầm tập giấy dày cộp không mở ra cho tôi xem, cảnh anh im lặng không đáp một câu nào khi tôi hỏi thẳng. Có lúc tôi ngồi dậy định gọi điện hỏi thẳng thêm một câu nữa, cầm máy lên rồi lại đặt xuống. Không ngủ được, tôi xuống bếp vo sẵn hai cân gạo cho buổi sáng, tay làm việc quen thuộc mà đầu vẫn không dứt khỏi cảnh anh đứng im ở cửa sau, tự nhủ hỏi thêm cũng chỉ nhận lại đúng cái im lặng như ban chiều mà thôi. Tôi lật lại từng lần anh im suốt từ hôm về tới giờ, lần nào cũng vậy, hỏi tới đâu anh cũng chỉ đứng đó chịu trận chứ chưa một lần chịu mở miệng nói hết một câu cho trọn, kể cả đêm nay khi tôi đã cấm cửa thẳng thừng ngay trước mặt anh.
Sáng hôm sau tôi nghe người trong ngõ kể lại, tay vẫn khua nước rửa nốt chồng bát, không hỏi lại câu nào. Tối qua Thời Nghiêm không về nhà họ Lục ngủ, cũng không ghé quán trọ nào trong khu; có người bảo thấy anh ngồi một mình ở cái ghế đá gần bến xe đầu phố tới tận khuya, cái áo khoác bạc vai vắt trên vai chứ không mặc.