Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 7 phút
Hai hôm giao cơm thử cho ban quản lý chợ Nam Sơn trôi qua suôn sẻ, sáng nào tôi cũng giao đúng giờ, chưa để nguội một suất nào. Hôm nay người phụ trách gọi điện dặn thêm, đúng ngày họp chia sạp thì nấu luôn phần cơm trưa cho cả phòng, mười chín suất như mọi bận. Tôi dậy sớm hơn nửa tiếng, kho một nồi thịt, xào riêng phần rau, múc canh chia vào từng túi nhỏ buộc chun cho khỏi sóng ra ngoài, xếp gọn vào hai cái giỏ tre. Xách hai giỏ nặng trĩu đi bộ ra chợ, tôi tính dư mười lăm phút phòng khi đường đông, đi ngang mấy dãy sạp đang dọn hàng buổi sáng, mùi cá mùi rau trộn lẫn xộc lên quen thuộc.
Phòng ban quản lý trên tầng hai, cửa mở sẵn, bên trong đã kê một dãy bàn dài, ghế xếp hai bên ngay ngắn. Tôi bưng từng hộp cơm bày ra bàn, miệng đếm thầm cho chắc đủ mười chín phần, không thiếu không thừa suất nào. Một người phụ trách đứng gần cửa hỏi lại cho chắc:
— Đủ mười chín suất như đã đặt chứ cháu?
Tôi đáp:
— Dạ, đủ mười chín suất ạ, cháu nấu từ sớm nên còn nóng, chú cứ để mọi người dùng khi họp.
Ông gật đầu, ghi gì đó vào cuốn sổ cầm sẵn trên tay rồi quay ra gọi người vào họp.
Tôi đứng lùi vào một góc chờ nhận tiền công, mắt lướt qua cả gian phòng thì khựng lại. Ghế xếp quanh bàn không phải mười chín mà đủ hai mươi, trước mỗi ghế đều có một cái cốc thuỷ tinh rót sẵn nước, kể cả cái ghế riêng đặt ở đầu bàn, chỗ người ta vẫn để dành cho khách. Mười chín hộp cơm tôi vừa bày chỉ vừa khít cho mười chín người ngồi ghế thường, còn cái ghế đầu bàn kia không có phần nào. Người ngồi đúng chỗ ấy là một người đàn ông tôi thấy mặt quen quen mà nghĩ mãi không lôi ra được đã gặp ở đâu, dáng ngồi thẳng, hai tay đặt gọn trên bàn, cốc nước trước mặt vẫn còn nguyên. Không ai bưng cơm cho ông, cũng không ai giục ông dùng, người ta chỉ để ông ngồi đó, thỉnh thoảng liếc qua rồi quay đi nói chuyện tiếp.
Người xin sạp ngồi chờ ngoài hành lang, gọi tới tên ai người ấy mới vào, tay ai cũng cầm theo một tờ đơn gấp tư, có người còn mang theo cả bản sao giấy tờ tuỳ thân kẹp sẵn phía trong. Có người đi ngang chỗ tôi đứng nép ngoài cửa thì gật đầu chào, hỏi thăm dăm câu về cái tiệm mười hai chỗ, rồi lại quay ra hàng đứng đợi tới lượt. Trong phòng chỉ có người của ban ngồi sẵn quanh dãy bàn, và cái ghế đầu bàn. Người phụ trách đi đi lại lại kiểm tra bàn ghế, thấy cái ghế đầu bàn vẫn còn trống thì đích thân kéo lại cho ngay ngắn, xoay đúng hướng nhìn ra cửa, tay chỉnh gọn không cần liếc nhìn lại lần hai. Tôi nhìn động tác ấy, tự hỏi trong đầu từ bao giờ cái ghế đầu bàn ở phòng họp chợ Nam Sơn đã có người mặc định phải để dành, mà không ai đứng ra giải thích cho rõ.
Trước khi vào họp, người phụ trách quay sang tôi, đưa cuốn sổ và cây bút, chỉ đúng dòng tôi phải ký. Cột bên phải mỗi dòng đều có một số tiền phải nộp trong tuần; riêng dòng của tôi chỗ đó ghi
— đã nộp đủ ba năm
. Tôi ký, không hỏi. Đứng giữa phòng đông người sắp họp thế này, hỏi ra khác nào để cả chợ biết chuyện riêng của mình, mà tôi thì chưa muốn ai biết.
Cuộc họp bắt đầu bằng việc đọc danh sách chia sạp. Người phụ trách đọc lần lượt từng tên, tới lượt tôi thì đọc rõ:
— Sạp mười chín, dãy B, Cố Mạn Thư.
Có người ngồi gần đó quay sang phía dãy ghế thường, cười nói to:
— Sạp bên chị Cố chắc nhờ anh Trịnh nói đỡ đấy nhỉ, cả dãy này ai chẳng biết anh có tiếng nói với ban quản lý.
Trịnh Hoài ngồi lẫn trong dãy ghế thường, tay đang xoay cái cốc nước trước mặt, nghe câu đó chỉ gật đầu một cái, không nói thêm gì, mắt cúi xuống mặt bàn.
Tôi đứng lặng nhìn cái gật đầu đó, rồi quay lại đếm thêm một lần cho chắc. Mười chín cái ghế thường đã có người ngồi kín, cộng cái ghế đầu bàn thành hai mươi, hai mươi cái cốc đã rót nước sẵn từ trước khi ai bước chân vào phòng. Mười chín suất cơm tôi nấu vừa khít số người ngồi ghế thường, không thừa một suất nào dành cho người ngồi đầu bàn. Nếu người xin được sạp cho tôi thật là Trịnh Hoài, hẳn anh ta phải quan trọng nhất phòng này, phải ngồi đúng cái ghế đầu bàn kia mới đúng lẽ thường. Nhưng Trịnh Hoài đang ngồi lẫn trong dãy ghế thường, ăn suất cơm tôi nấu như mọi người khác, còn người ngồi ghế đầu bàn, người cả phòng không ai dám để đói dù chẳng ai đặt phần cho ông, mới thật sự là người đứng sau chuyện này.
Tôi nhìn kỹ gương mặt người đàn ông đó thêm lần nữa, cố lục lại trong đầu xem đã gặp ở đâu, chỉ thấy quen mà không lôi ra được. Cuộc họp tan, mọi người đứng dậy lục tục ra về, người phụ trách trả tôi tiền công nấu hôm nay, dặn mai giao lại đúng giờ như mọi bận. Tôi đi ngang chỗ Trịnh Hoài đang đứng nói chuyện với mấy người quen trong dãy, không dừng lại hỏi anh ta một câu nào về cái gật đầu lúc nãy. Suốt từ hôm ông Đàm buột miệng tới giờ, tôi vẫn đinh ninh cái tên cần tìm là Trịnh Hoài, giờ đứng cách anh ta có mấy bước chân, tôi lại không hỏi được lấy một câu, vì tôi biết chắc câu trả lời không nằm ở người đang đứng đó.
Tôi thử lần lượt điểm lại từng cái tên mình quen biết trong khu này xem còn ai đủ sức đứng sau một cái sạp được thanh toán trước ba năm, một khoản nợ thuốc bảy phẩy bốn vạn, một tiếng dặn dò khiến ông Đàm phải rụt tay lại giữa câu nói. Ông Đàm thì chính ông cũng chỉ là người nghe lệnh, không đủ tiền để dặn ai chuyện gì. Hai người của Ngũ Vị Quán đang muốn nuốt cả dãy ngõ Tây Hoè, họ không có lý do gì bỏ tiền giữ giúp cái tiệm của tôi. Còn Thời Nghiêm, người vừa về được hơn một tháng, hai lần mở miệng đều là mượn tiền chứ chưa lần nào đưa được cho tôi một đồng, càng nghĩ tôi càng thấy anh là người ít khả năng nhất trong tất cả những cái tên tôi vừa điểm qua. Cái chỗ tôi dựng lên cho Trịnh Hoài suốt mười tám ngày qua giờ trống hẳn, mà không cái tên nào trong số còn lại đủ để lấp vào đó.
Trịnh Hoài đuổi theo tôi tới đầu cầu thang:
— Chị Cố, sạp mười chín được đấy, sát lối vào. Có gì cần cứ bảo tôi.
Tôi gật đầu, không hỏi lại câu nào, quay vào bàn thu nốt chỗ hộp cơm của mình.
Tôi xếp hộp rỗng vào giỏ, đi hết một lượt bàn. Mười chín cái hộp đều đã vét sạch. Cái cốc ở đầu bàn vẫn đầy tới đúng vạch lúc rót, và cái ghế đó giờ trống.