Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 6 phút
Trưa thứ hai, giờ nghỉ trưa, Kỷ Đồng ghé qua phòng tổ toán tìm Bàng Học Nghĩa, hỏi thẳng ông về cuốn vở của em Hạ Tiểu Quân bị thu hồi trước đó. Kỷ Đồng đứng ngay trước bàn ông, hai tay khoanh trước ngực chờ:
— Thầy còn giữ cuốn vở của em Hạ lớp 12A2 không ạ?
Bàng Học Nghĩa đẩy cuốn sổ mượn sang trước mặt cô:
— Cô chắc em nó cần gấp đến vậy à? Cô lấy tư cách gì mà đòi trả, ký mượn vào đây tôi mới đưa.
Kỷ Đồng ký tên xuống dòng trống ông chỉ. Ông mới kéo ngăn tủ hồ sơ dưới bàn, lục một lúc rồi rút ra đúng cuốn vở bìa xanh đã sờn góc, đặt thẳng lên mặt bàn trước mặt cô mà không nói thêm lý do năm tuần trước ông thu nó. Kỷ Đồng cầm cuốn vở lên, giở nhanh vài trang, thấy còn nguyên những dòng chữ nhỏ em Hạ chép lại. Cô gật đầu cảm ơn rồi bước ra khỏi phòng tổ.
Chiều hôm đó, em Hạ Tiểu Quân đang đứng cùng mấy bạn cùng lớp ở hành lang tầng hai giờ ra chơi thì Kỷ Đồng gọi riêng em lại một góc, đưa thẳng cuốn vở vào tay em:
— Vở của em đây, cô xin lại được rồi.
Kỷ Đồng nhìn em Hạ lật vội vài trang đầu, mắt rà qua từng trang một lượt.
— Em cảm ơn cô ạ,
em Hạ nói, giọng khẽ, ôm cuốn vở sát ngực và ngẩng lên nhìn cô một lúc trước khi cúi đầu lần nữa. Chuông reo báo hết giờ ra chơi. Em Hạ quay người chạy nhanh về phía cầu thang, cuốn vở kẹp gọn dưới cánh tay.
Tối thứ ba, dọn xong chồng bài kiểm tra mang về nhà chấm, Kỷ Đồng mới nhớ ra cuốn sổ điểm còn để quên trên bàn giáo viên. Cô vội quay xe đạp lại trường dù trời đã sẫm hẳn. Cổng chính chưa khoá, giờ mới hơn tám giờ tối. Sân trường vắng hoe, chỉ còn một ngọn đèn cao áp sáng lẻ loi giữa khoảng sân xi măng loang lổ bóng cây. Dắt xe qua cổng, Kỷ Đồng liếc sang phía phòng bảo vệ sát đó thấy khung cửa sổ vẫn hắt ra một quầng sáng vàng, trong khi mọi dãy phòng học và phòng tổ phía sau đều đã tắt đèn từ lâu.
Dừng bước ngay dưới khung cửa sổ, cô chưa gõ cửa vội. Qua lớp kính hơi mờ, cô thấy bác Lâu ngồi cúi đầu ở bàn, một cuốn tạp chí bìa cứng mở sẵn bên tay trái. Tay phải ông cầm mẩu bút chì 2B viết liên tục trên mặt sau một tờ lịch đã bóc rời khỏi cuốn lịch treo tường. Cạnh khuỷu tay ông là xấp lịch cũ cao chừng một gang tay, mặt trắng để ngửa lên trên. Những tờ nằm dưới đã kín đặc chữ viết tay nhỏ và đều. Kỷ Đồng nhìn sang góc bàn quen thuộc, nơi mọi tuần cô vẫn đặt tờ đề của mình, thấy góc bàn trống trơn không một tờ giấy nào nằm đó. Bác Lâu đã lật sang tờ thứ ba của xấp lịch.
Gõ nhẹ lên khung cửa, Kỷ Đồng thấy bác Lâu ngẩng lên, tay úp nhanh tờ lịch đang viết dở xuống dưới xấp lịch cũ, chỉ để lộ cuốn tạp chí nằm nguyên trên mặt bàn. Standing hẳn ở ngoài khung cửa không bước vào trong, Kỷ Đồng nói:
— Cháu quên cuốn sổ điểm trên lớp, bác cho cháu mượn cái đèn pin để cháu chạy lên lấy.
Bác Lâu với tay lấy chiếc đèn pin để cạnh chồng sổ trực, đưa qua khung cửa sổ cho cô. Kỷ Đồng cầm đèn rảo bước qua khoảng sân tối, leo lên cầu thang vắng lặng của dãy phòng học. Cô tìm đúng ngăn bàn giáo viên lấy lại cuốn sổ điểm còn nằm nguyên chỗ cũ, rồi quay xuống trả lại đèn ngay.
Nhận lại chiếc đèn, ông cúi xuống bàn tiếp tục viết, chỉ nói đúng một câu:
— Cô đi cẩn thận, cầu thang tối.
Tranh thủ tiết trống sáng thứ tư, Kỷ Đồng phóng xe tới thư viện. Vừa tả xong khổ giấy và cách xếp chữ ở góc bìa cuốn tạp chí bìa cứng dày mình thấy tối hôm trước trên bàn bác Lâu, cô thủ thư tay vẫn xếp lại chồng báo cũ trên kệ, liền nói:
— Tạp chí Thông Báo Toán Học chứ gì nữa, tờ duy nhất huyện còn đặt mua đều đặn mỗi tháng.
Cô thủ thư dẫn cô vào góc kệ báo chí cuối phòng, rút ra đúng cuốn bìa cứng giống hệt cuốn cô thấy tối hôm trước. Cô lật cho Kỷ Đồng xem trang đầu ghi rõ mỗi năm tạp chí mở một đề, ai giải được thì gửi lời giải về toà soạn, hạn chót là ba mươi tháng mười một. Kỷ Đồng đứng đọc lại dòng đó hai lần, ghi nhớ đúng ngày tháng rồi trả cuốn tạp chí lại cho cô thủ thư, cảm ơn và ra về ngay để kịp giờ lên lớp tiết sau.
Chiều thứ năm, tan tiết cuối cùng trong ngày, Kỷ Đồng xốc lại quai cặp trên vai bước ra khỏi dãy lớp. Thấy bác Lâu đang xếp chồng sổ trực trong phòng bảo vệ trên đường ra cổng, cô dừng lại hỏi thẳng ông có định gửi bài giải của mình cho toà soạn tạp chí không.
Cuốn sổ trên cùng bỗng trượt khỏi mép chồng. Dừng tay xếp lại ngay ngắn, bác Lâu đáp, giọng dứt khoát:
— Tôi không gửi đâu.
Tay đã chìa ra đợi nhận tờ giấy nháp quen thuộc từ tay cô, ông hỏi ngược lại luôn:
— Tuần này cô có bài chưa?
Kỷ Đồng lắc đầu, bảo chiều nay chưa kịp chép lại đề, hẹn ông sáng mai mang xuống. Trong đầu cô vẫn còn nguyên hình ảnh xấp lịch dày ông cắm cúi viết tối thứ ba.
Kỷ Đồng bước ra khỏi phòng bảo vệ, đi hết dãy hành lang tối mới dừng chân bên khung cửa sổ khép hờ. Bàn trực khi đó đã vắng người, có lẽ ông vừa đi tuần một vòng sân theo giờ quen. Xấp lịch cũ vẫn nằm nguyên cạnh chồng sổ, mặt trên cùng kín đặc những dòng chữ nhỏ đều tay hơn hẳn xấp còn để trắng bên dưới. Trên tường phía sau, cuốn lịch tuần treo chỉ còn đúng sáu tờ nữa là chạm mốc ba mươi tháng mười một, đúng cái hạn tờ tạp chí ở thư viện đã ghi rõ. Kỷ Đồng áp trán vào kính cửa sổ lạnh, đếm lại đúng số tờ lịch còn lại trên tường.