Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 5 phút
Chiều muộn thứ hai, sau tiết cuối, Kỷ Đồng dán xong bài mới lên bảng, chép lại nguyên đề ra hai tờ giấy nháp. Cô gấp một tờ mang xuống phòng bảo vệ, gõ cửa bước vào, đưa tờ giấy về phía bàn ông:
— Bác ơi, cháu giải không ra bài này, bác xem giúp cháu lúc nào rảnh được không ạ?
Bác Lâu cầm tờ giấy lên, mắt đọc hết dòng đầu tiên, rồi úp tờ giấy xuống mặt bàn gỗ. Mấy giây sau ông mới lật nó lên, kẹp vào giữa chồng sổ trực.
— Cô để đó, tối nay tôi trực rảnh thì tôi xem thử.
Ông kéo cuốn sổ trực về phía mình và mở ra, coi như câu chuyện đã xong. Kỷ Đồng nán lại đôi chút, định bụng chờ xem ông có giải ngay không.
Trong lúc chờ, Kỷ Đồng ngồi trên chiếc ghế đẩu kê cạnh cửa, mắt lơ đãng nhìn quanh căn phòng nhỏ. Trên nóc tủ gỗ cao khuất trong góc tối, cô thấy một xấp giấy buộc dây cẩn thận, mép giấy đã ố vàng theo thời gian. Tò mò ngắm thêm một lúc, cô đoán chừng đó là giấy tờ cũ hay hồ sơ cất đã lâu. Cô không hỏi thẳng, chỉ cúi đầu nhìn tờ nháp thứ hai trên tay, giả vờ xem lại đề bài.
Bác Lâu rút tờ giấy nháp của cô ra khỏi chồng sổ trực, đặt lại lên mặt bàn gỗ ngay trước mặt. Cạnh đó xếp mấy cuốn tạp chí cũ sờn góc bìa vì lật nhiều lần. Kỷ Đồng liếc nhìn, thấy góc bìa cuốn trên cùng có con số 4127 viết bằng bút chì, nét chữ nhỏ nhắn đều đặn. Cô định cất tiếng hỏi con số đó dùng làm gì. Nhưng bác Lâu đã cúi hẳn xuống tờ giấy nháp. Mắt ông lướt một vòng rồi dừng ở dòng đề bài đầu tiên. Ông đặt bút xuống, ngẩng lên nhìn ra phía cửa, xem cô còn ngồi đó không, rồi mới cầm bút lại và viết. Thấy ông không hỏi gì, cô đành thôi, im lặng ngồi chờ.
Hồi lâu sau, bác Lâu ngẩng đầu bảo cô cứ về trước. Bài này cần thêm thời gian, sáng mai trước tiết học đầu tiên ông sẽ đưa lại đáp án. Kỷ Đồng đứng lên, gấp tư tờ nháp của mình nhét vào túi áo khoác, để lại tờ kia mở trên bàn ông, cảm ơn rồi bước ra ngoài. Ra tới hành lang, cô đưa tay lên công tắc đèn, rồi bỏ xuống — bác Lâu còn trực tới chín rưỡi. Cô rảo bước về phía cổng phụ.
Sáng hôm sau, đến giờ vào học mà tiếng trống quen thuộc vẫn chưa vang lên. Học sinh đứng lố nhố ngoài sân, chưa biết nên vào lớp hay đứng chờ. Một giáo viên trực ban buổi sáng, bảy giờ đến trường thấy phòng bảo vệ vẫn đóng cửa im ỉm, phải chạy ra đánh trống thay. Tiếng trống dồn dập vội vã, lệch nhịp hẳn so với thường ngày. Kỷ Đồng đứng ở hành lang nhìn ra. Cô hỏi mới biết bác Lâu ngủ quên, không kịp dậy đánh trống. Cô trầm mặc một hồi. Tối hôm đó lúc cô rời phòng bảo vệ, đèn bàn của ông vẫn sáng, tờ giấy để lại vẫn nằm mở dưới tay ông.
Đến giờ ra chơi, trễ hơn cái hẹn trước tiết đầu, bác Lâu chặn cô lại ở hành lang gần phòng bảo vệ. Ông chìa trả tờ giấy để lại đã vuốt phẳng, góc dưới thêm mấy dòng bút chì viết đáp án gọn gàng:
— Sáng nay tôi ngủ quên, giờ mới rảnh tay đưa cô được.
Nói xong, ông không giải thích gì thêm. Kỷ Đồng nhận lấy, khẽ cảm ơn rồi gấp giấy cất vào cặp. Qua khung cửa phòng bảo vệ để mở sau lưng ông, chồng tạp chí vẫn nằm nguyên chỗ cũ trên mặt bàn. Con số bút chì ở góc bìa cuốn trên cùng giờ là 4128. Trưa hôm đó, cô nghe một giáo viên nhắc lại, suốt tám năm ông làm ở trường, đây là lần đầu tiên xảy ra chuyện này.
Đợt nghỉ lễ Quốc khánh kéo dài bảy ngày, gộp cả mấy ngày Trung thu sát đó. Ngày trường mở cửa lại, Kỷ Đồng thấy tờ bài cũ vẫn còn nguyên trên bảng gỗ ngoài sân, nắng sương làm ngả sang màu vàng nhạt. Quán cơm nhỏ ngay cổng trường vẫn đóng cửa. Trên bảng tin văn phòng, tờ thông báo rà soát biên chế dán từ trước kỳ nghỉ vẫn nằm nguyên chỗ cũ, mép giấy cong vút lên.
Trong phòng bảo vệ, sổ trực còn nguyên dòng ghi tên ông bằng mực đỏ cho lỗi ngủ quên hôm đó. Sáng thứ hai đầu tiên sau kỳ nghỉ, Kỷ Đồng mang tờ bài mới xuống, bác Lâu chìa tay đón lấy, không hé một lời về bảy ngày vắng vẻ một mình. Trở về phòng tổ, cô nghe một giáo viên khác rảo bước nhắc chuyện qua hành lang, rằng tháng này bác Lâu bị trừ một trăm tệ tiền lương vì lỗi ngủ quên hôm nọ.
Kỷ Đồng đứng lại ở cửa phòng tổ. Trong cặp cô, tờ bài chép sẵn cho tuần sau kẹp giữa hai cuốn giáo án, mép giấy thò ra ngoài chừng một đốt ngón tay. Cô đặt tay lên đó, rồi kéo khoá cặp lại.