Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 7 phút
Buổi tối hôm dán tờ bài tuần mới, Kỷ Đồng ở lại phòng tổ một mình. Cô giở bản photocopy dòng bút chì cũ từng chụp lại, đặt dưới ánh đèn bàn đọc kỹ hơn. Mắt cô dừng lại ở cách người viết đặt tên cho từng bước giải. Lối gọi tên này từ lâu đã không còn giáo viên nào trong trường sử dụng. Cô nhận ra ngay đó chính là lối gọi bước theo bộ giáo trình sư phạm cô từng dùng chấm bài suốt năm đầu làm trợ giảng. Khi đó, trường chưa kịp mua sách mới nên phải in lại một bản quét cũ để dùng tạm. Hai mươi năm nay, không nơi nào còn dạy học trò gọi tên các bước theo lối ấy. Ngay cả giáo trình mới nhất của tổ toán trường này cũng đã đổi sang cách gọi khác từ lâu.
Chi tiết đó chỉ nói lên một điều: người viết dòng bút chì này từng học nghề bằng chính bộ giáo trình cũ đó. Ông từng đứng lớp dạy học trò theo lối gọi tên ấy đủ lâu để nó thành thói quen. Tờ giấy không nói rõ ai là người viết, Kỷ Đồng phải tự đoán. Cô nghĩ ngay tới người giáo viên lớn tuổi nhất tổ toán còn đứng lớp. Đó là người duy nhất trong tổ có thể đã học nghề từ thời giáo trình ấy còn được dùng. Suốt cả buổi tối, cô giữ suy đoán đó trong đầu, không viết ra giấy. Cô định bụng sáng hôm sau sẽ dò hỏi thử vài người trong tổ.
Sáng hôm sau, vào giờ ra chơi, Kỷ Đồng tranh thủ hỏi dò từng người trong tổ toán. Cố giữ giọng tự nhiên như hỏi chuyện bâng quơ, cô hỏi:
— Các thầy cô có ai từng học bằng bộ giáo trình sư phạm cũ, cái còn gọi tên các bước theo lối ngày trước không ạ?
Người giáo viên lớn tuổi nhất tổ lắc đầu ngay. Ông bảo mình học nghề bằng bộ giáo trình khác hẳn, chưa từng chạm tới bộ đó bao giờ. Người còn lại cũng lắc đầu. Người đó hỏi cô tìm thứ đó làm gì giữa lúc bận rộn đầu năm học, rồi trầm mặc không nói thêm câu nào.
Ngay sáng hôm sau, Bàng Học Nghĩa gọi Kỷ Đồng lên phòng tổ. Ông thông báo từ nay mọi thứ dán lên bảng tin ngoài sân đều phải qua ông duyệt trước khi treo, không phân biệt bài của tổ hay bài riêng của ai. Giọng ông không còn vẻ nhẹ nhàng như hôm đầu tiên:
— Cô đi hỏi khắp tổ có ai từng học bằng bộ giáo trình sư phạm cũ không, tôi nghe lại cả rồi. Cô ghi thêm năm chữ bài này không tính điểm là quy chế đề kiểm tra hết bắt được cô, nhưng từ nay treo gì lên bảng đó cũng phải cho tôi xem qua trước đã.
Từ hôm đó, cứ tới giờ ra chơi, Bàng Học Nghĩa lại đứng hẳn ở cửa sổ phòng tổ. Mắt ông nhìn xuống khoảng sân có tấm bảng gỗ, không rời đi cho tới khi tiếng trống báo hết giờ vang lên.
Kỷ Đồng quyết định tự mình tìm ra câu trả lời bằng một cách khác, không hỏi ai thêm câu nào. Ba tối liền sau giờ tan làm, cô nán lại trường tới sau giờ khoá cổng. Cô lặng lẽ đứng khuất sau gốc bàng cạnh tấm bảng gỗ, nơi nhìn rõ lối đi dẫn tới bảng tin mà không bị ai phát hiện. Hai tối đầu tiên, sân trường vắng hoe. Trong bóng tối đặc chỉ có tiếng côn trùng kêu rả rích, không một bóng người bước ra từ các dãy nhà.
Tối thứ ba, đúng chín giờ bốn mươi phút, một bóng người bước ra từ phía phòng trực. Người đó đi thẳng về hướng tấm bảng gỗ giữa sân với dáng đi chậm rãi. Bước chân ông không cần nhìn xuống mặt sân dù trời đã tối hẳn. Kỷ Đồng nín thở đứng yên sau gốc bàng. Cô nhận ra ngay đó là bác Lâu, người vẫn mở cổng mỗi sáng và khoá cổng mỗi tối. Lúc này ông đang đứng lặng trước tấm bảng tin dưới ánh đèn cột điện duy nhất còn sáng. Ông rút mẩu bút chì 2B vẫn giắt sau tai ra, cầm bằng hai ngón tay. Ông cúi người đọc lại tờ giấy dán trên bảng một lượt từ đầu tới cuối, mắt chậm rãi lần theo từng dòng chữ không bỏ sót chỗ nào.
Ông xoay người, ghé sát mặt giấy hơn. Đặt đầu bút chì xuống đúng khoảng trắng ở mép trái tờ giấy, ông viết một dòng ngắn. Tay ông giữ thẳng và chắc, nét đưa liền một mạch không hề ngập ngừng. Viết xong, ông đứng thẳng lại. Ông đưa ngón tay miết nhẹ lên nét chữ vừa viết cho khô mực chì, rồi giắt mẩu bút chì trở lại sau tai. Cả quá trình diễn ra chưa đầy một phút. Ông quay người bước đi theo đúng hướng vừa tới, nhanh tới mức Kỷ Đồng còn chưa kịp định thần.
Kỷ Đồng đứng yên sau gốc bàng, không nhúc nhích, không gọi tên ông. Hai tay cô nắm chặt trước ngực, chỉ nghe tiếng bước chân xa dần rồi mất hẳn phía cửa phòng trực đang khép hờ. Tiếng bước chân tắt hẳn, cô vẫn đứng thêm một lúc. Tay bám vào thân cây bàng sần sùi, đầu óc cô quay cuồng nối lại từng mảnh dữ kiện: cách gọi tên các bước trong bộ giáo trình cũ, tám năm ông đứng gác cổng trường mỗi sáng mỗi tối, và cái tên cô đoán tối hôm đọc lại dòng bút chì hoá ra sai hoàn toàn.
Khi chân đã tê cứng vì đứng lâu, cô rời khỏi gốc bàng, đi vòng ra cổng phụ để không phải đi ngang phòng trực. Vừa đi, cô vừa nhớ lại từng lần ghé qua đó trả đồ mượn, xin chìa khoá kho, hay chỉ đứng chờ ông mở cổng buổi sáng. Trong suốt ba tuần vừa qua, không một lần nào cô nhận ra dấu hiệu gì khác lạ ở ông, ngoài mẩu bút chì giắt sau tai và xấp lịch cũ để mặt trắng trên bàn. Đó là hai thứ cô từng nhìn thấy nhưng không nghĩ ngợi gì thêm.
Đêm đó về tới phòng trọ, Kỷ Đồng không gọi điện kể chuyện này cho ai, cũng không ghi lại thành chữ trong sổ. Cô nằm nhìn trần nhà, ôn lại trong đầu hình ảnh bàn tay cầm bút chì chắc chắn lúc nãy dưới ánh đèn cột điện. Cô hiểu mình vừa biết một điều không ai khác trong trường này biết: kể cả ông tổ trưởng đang canh chừng ở cửa sổ phòng tổ mỗi giờ ra chơi, hay hai giáo viên tổ toán vừa lắc đầu với câu hỏi của cô.
Sáng hôm sau tới trường, Kỷ Đồng đi ngang phòng bảo vệ. Bác Lâu đang quét sân trước cổng, tay cầm chổi quét từng nhát đều đặn qua lớp lá rụng, dáng lưng cúi xuống làm việc. Cô định dừng lại chào nhưng rồi lại thôi, chỉ gật đầu nhẹ khi đi ngang qua. Cô không hỏi ông câu nào về chuyện tối hôm trước, giữ nguyên nhịp bước đi thẳng vào phòng tổ.
Trước khi bước hẳn vào phòng tổ sáng đó, Kỷ Đồng còn nghe rõ hồi trống sáu giờ ba mươi vang lên sau lưng, đúng nhịp bác Lâu vẫn kéo suốt tám năm nay, không sai một giây. Từ trước tới giờ, cô chưa từng thấy ai trong trường bắt chuyện với ông quá một câu hỏi vặt: tuốc nơ vít, chìa khoá kho, hay giờ đánh trống buổi sáng. Cô dừng chân ngay giữa hành lang, nghe tiếng trống ngân dài rồi tắt hẳn. Học sinh ùa qua cổng vào sân, tiếng bước chân và tiếng cười nói buổi sáng ập tới lấp kín khoảng sân vừa còn vắng lặng đêm qua.