Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 6 phút
Nồi thịt kho tôi bắc từ năm giờ sáng cạn đúng lúc tôi múc tới suất thứ chín mươi tư, cái muôi cạ đáy nồi phát ra tiếng khô khốc, tôi biết ngay không cần cúi xuống nhìn. Ba khách còn lại đang ngồi chờ ở bàn trong cùng, tôi bước ra xin lỗi:
— Hết thịt kho rồi, cô đổi sang cá kho tộ giúp cháu nhé, cháu cho thêm miếng đậu phụ chiên bù vào, ăn cũng no bụng như thường.
Người khách cười, bảo:
— Cá kho tộ hôm nay coi bộ ngon hơn hôm qua đấy chứ.
Một người khách khác ngồi bàn kế bên gõ đũa vào thành bát, gọi thêm chén nước mắm ớt, tôi mang ra tận bàn, tiện tay lau luôn vệt dầu mỡ còn đọng trên mặt bàn nhựa. Mười hai chỗ ngồi trong tiệm này tôi thuộc lòng ai hay ăn nhanh ai hay ngồi lâu, ai gọi món gì vào ngày nào trong tuần, ai thích cơm khô ai thích cơm nát.
Bà hàng xóm ngồi bàn giữa và miếng cơm cuối cùng trong bát, đặt đũa xuống rồi nói to hẳn lên, đủ cho cả hai bàn bên cạnh nghe rõ từng chữ:
— Hôm qua là tròn ba năm ngày chồng cô bỏ đi rồi đấy, bác còn nhớ vì trùng đúng hôm giỗ đầu ông cụ bên nhà bác. Năm nay cô có tính chuyện đi bước nữa không, chứ cứ ở vậy mãi phí cả đời con gái, gái có thì chứ đâu có mãi.
Tôi cười đáp:
— Cháu còn phải lo tiền thuê tháng sau đã bác ạ, chuyện chồng con để sau tính cũng chưa muộn.
Bà gật gù, quay sang gắp thêm miếng dưa muối, còn kịp dặn thêm:
— Gặp ai ưng thì lấy ngay đi, đừng kén quá nghe chưa.
Bà xới thêm một muôi cơm đầy, cười khà một tiếng rồi quay sang kể lại chuyện đó với bàn bên cạnh. Tôi bưng cái khay không ra sau quầy, tay vẫn đều, chỉ có cổ họng hơi nghẹn lại một chút, cái nghẹn quen thuộc mỗi lần tới ngày này trong năm, năm nào cũng vậy.
Đúng lúc tôi đang lau tay vào vạt tạp dề thì cửa tiệm mở, tiếng chuông nhỏ treo trên khung cửa rung lên một tiếng ngắn. Người bước vào mặc cái áo khoác màu xám, hai bên vai bạc hẳn đi so với phần thân áo, kiểu bạc của thứ mặc dầm mưa dầm nắng lâu ngày ngoài trời. Anh đứng thẳng giữa lối đi, đúng khoảng giữa hai bàn khách đang ăn, tay không cầm gì, không túi xách, không mũ, tóc hơi rối như vừa đi một quãng đường dài mà chưa kịp chải lại. Tôi nhận ra anh trước khi kịp nghĩ ra mình đang nhận ra ai, hai đầu gối tôi khựng lại một nhịp ngay sau quầy, tay cầm khăn lau siết chặt hơn mà không hay.
Anh không hỏi mẹ có khỏe không, không hỏi cái tiệm dạo này bán ra sao, không nhìn quanh lấy một vòng xem ba năm nó đổi khác thế nào, bàn ghế có còn giữ nguyên chỗ cũ hay không. Anh nhìn thẳng tôi, giọng khô, đều:
— Cho anh mượn hai vạn tệ, Mạn Thư.
Cả hai bàn khách đang ăn khựng đũa lại, một người còn quay hẳn đầu sang nhìn, mắt đảo qua đảo lại giữa anh và tôi. Tôi đứng sau quầy một lúc, tay vẫn cầm cái khăn lau, không biết nên hỏi trước câu nào trong hàng chục câu đang xếp hàng chờ trong đầu, câu nào cũng dở dang vì chưa kịp thành hình đã bị câu khác chen lên trước.
Tôi bảo:
— Anh ngồi xuống ăn một suất đã, chuyện tiền tính sau, bụng đói thì nói chuyện gì cũng khó vào.
Anh lắc đầu, đứng nguyên chỗ cũ, mắt nhìn về phía quầy thu ngân chứ không nhìn tôi. Anh cứ đứng đó, im lặng, chân không nhích một bước, tay cũng không thõng xuống nghỉ lấy một chút. Ba năm không gặp, tôi những tưởng mình sẽ có một câu gì đó để hỏi trước, một câu trách móc hay một câu dò xét, hoá ra câu duy nhất bật ra khỏi miệng tôi lại là:
— Anh cần tiền làm gì?
Anh chỉ đáp:
— Cần gấp.
Không thêm gì nữa, mắt vẫn không chịu nhìn thẳng vào tôi lấy một lần.
Tôi kéo ngăn kéo ra, đếm đủ hai vạn tệ ngay trước mặt hai bàn khách, tay đếm không run nhưng cũng không nhanh, cứ để mỗi tờ chạm mặt bàn quầy một tiếng khe khẽ, đếm xong tôi còn vuốt lại cho phẳng phiu như thói quen mỗi lần giao tiền cho khách sỉ. Tờ trên cùng hơi nhàu một góc, tôi vuốt lại cẩn thận trước khi đặt lên trên cùng xấp. Tôi không hỏi thêm câu nào nữa, đưa cả xấp cho anh, giữ lại đúng phần tiền chợ chiều nay để còn kịp mua thêm rau. Trong lòng tôi biết rõ hỏi cũng vô ích, người đã bỏ đi ba năm không nói một tiếng thì không có lý do gì tự dưng đứng đây kể lể cho tôi nghe chuyện của anh, huống hồ anh vẫn đứng thẳng lưng như thế, không có vẻ gì của người sắp chịu mở miệng. Anh cầm tiền, gấp đôi nhét vào túi trong áo khoác, ngay chỗ vai bạc, rồi quay người bước ra, không nói cảm ơn, không hẹn ngày trả, bước chân cũng không vội như lúc bước vào.
Sau khi cửa khép lại, quán vẫn còn nguyên tiếng đũa chạm bát, nhưng chậm hẳn đi. Bà hàng xóm ban nãy quay sang bàn bên, hạ giọng thì thầm điều gì đó, tay che miệng, mắt vẫn không rời cánh cửa anh vừa đi qua, thỉnh thoảng lại liếc về phía tôi một cái. Tôi không nghe rõ hết câu nhưng đoán được nội dung không khó, mấy chữ quen thuộc lặp lại trong ba năm nay chỉ cần đổi vế cuối cùng cho hợp với chuyện hôm nay, đổi từ chồng bỏ vợ sang chồng bỏ vợ giờ về xin tiền.
Chiều đó tôi vẫn dọn hàng, vẫn tính lại sổ, vẫn mang cơm sang cho mẹ chồng như mọi ngày, tay làm việc mà đầu óc cứ lơ lửng đâu đó ở cái dáng đứng thẳng lưng giữa lối đi ban trưa. Buổi tối, khi tôi ra đầu ngõ đổ rác, nghe loáng thoáng câu chuyện từ mấy nhà bên cạnh vọng ra:
— Thằng chồng bỏ vợ ba năm nay mò về xin tiền, còn dám đứng giữa tiệm người ta mà xin, gan thật đấy chứ chẳng chơi.
Tôi đứng lặng một lúc bên thùng rác, tay vẫn cầm cái túi ni lông, nghĩ ba năm nay cả ngõ này gọi tôi là con dâu bị chồng bỏ, còn tối nay chắc họ có thêm một câu mới để nói về cả hai chúng tôi. Trước khi đóng cửa, tôi mở ngăn kéo đếm lại tiền một lượt, thiếu đúng hai vạn so với sổ sáng nay, cầm bút ghi thêm một dòng: cho Thời Nghiêm vay, chưa hẹn ngày trả.