Trạm Truyện · truyện gốc · đọc 7 phút
Học kỳ hai vừa mở lại được ba ngày. Lúc sương còn đọng trên mái tôn dãy phòng học, Kỷ Đồng dắt xe qua cổng, thấy hai người trong tổ hành chính đang bắc thang treo tấm băng rôn chào đoàn xét chuẩn ngay trên đầu cổng chính. Nghỉ đông rồi Tết Nguyên đán kéo dài từ giữa tháng giêng tới hết tháng hai, suốt sáu tuần liền sân trường im lìm, tấm bảng tin ngoài sân không dán một tờ giấy nào. Đi ngang phòng bảo vệ, cô thấy bác Lâu đang một mình xếp lại chồng sổ trực dày lên rõ rệt sau sáu tuần vắng người. Cả trường bây giờ dồn hết sức quét dọn từng góc hành lang, chuẩn bị đón đoàn xét chuẩn quốc gia mức hai về vào cuối tháng.
Vừa dựng xong xe ở dãy nhà xe giáo viên, điện thoại Kỷ Đồng đã rung lên. Màn hình sáng tên người gửi là bác Lâu. Tin nhắn gồm một dòng ngắn phía trên và một đoạn chữ nhỏ chuyển tiếp nguyên văn từ số máy lạ, phía dưới ký tên Ngụy Hàm Chương. Dòng ngắn của bác Lâu chỉ vỏn vẹn một câu, không chào hỏi, cũng không giải thích gì thêm:
— Bài tuần sau em có chưa?
Kỷ Đồng đứng đọc lại câu đó hai lần ngay giữa sân, không mở đoạn tin nhắn dài ra đọc tiếp. Cô cất điện thoại vào túi áo khoác rồi bước vào dãy phòng tổ.
Giữa buổi sáng, ở hành lang tầng một, Bàng Học Nghĩa gọi Kỷ Đồng lại, tay chỉ thẳng sang tấm lồng kính đứng giữa sân từ hồi tháng mười năm ngoái:
— Tổ hết chỗ dán thông báo họp phụ huynh tuần này, cô nhắn bác Lâu tháo giùm tấm lồng kính ra, chỗ đó rộng, dán vừa.
Khung nhôm sáng bóng ngày mới lắp giờ đã xỉn màu qua một mùa đông, nhãn bảo hành dán ở góc trên cong mép vì ẩm. Nhớ lại đúng chỗ chiếc chìa nhỏ từng nằm lẫn vào chùm chìa của bác Lâu suốt mấy tháng, Kỷ Đồng gật đầu nhận lời nhắn hộ ông tổ trưởng vào chiều nay.
Tập hồ sơ tập sự của Kỷ Đồng đã nằm sẵn trên bàn tổ. Bàng Học Nghĩa mở ra, lật tới trang cuối còn để trống dòng đánh giá của tổ trưởng. Ông cầm bút ký thẳng vào ô kết quả, ghi hai chữ đạt, không đọc lại phần nhận xét phía trên. Đẩy tập hồ sơ qua mặt bàn cho cô, ông nhạt giọng nói:
— Điểm ba lớp cô nhận hồi đầu năm giờ đứng khá nhất khối, tôi ký đạt, không có gì phải bàn thêm.
Kỷ Đồng cầm lấy tập hồ sơ, nhìn đúng tên ba lớp quen thuộc mình từng nhận hôm khai giảng năm ngoái. Cô gấp lại rồi cất vào cặp.
Chiều hôm đó, tan tiết cuối, Kỷ Đồng mang tờ đề tuần mới xuống phòng bảo vệ theo đúng thói quen mấy tháng nay. Cô gõ cửa rồi bước vào không đợi ông đáp. Bác Lâu đang ngồi ở bàn, chồng sổ trực đã xếp gọn sang một bên. Mắt ông nhìn ra khung cửa sổ phía sân trước, sau đó mới quay lại nhìn cô. Đặt tờ đề xuống mặt bàn ngay chỗ quen, Kỷ Đồng không nhắc gì tới đoạn tin nhắn dài sáng nay, chỉ đứng chờ ông cầm tờ giấy lên đọc lướt qua một lượt rồi đặt xuống.
Không vòng qua tờ đề đang nằm trên bàn, Kỷ Đồng nhìn thẳng vào ông, hỏi:
— Giờ bác muốn gì?
Bác Lâu đặt tờ đề xuống lại, trầm mặc một lúc lâu. Hai tay ông đặt song song trên mặt bàn gỗ, không với lấy mẩu bút chì giắt sau tai. Mắt nhìn xuống mặt bàn chứ không nhìn cô, ông thấp giọng nói:
— Tôi chỉ muốn làm nốt cái tôi đang làm dở.
Nghe hết câu đó, Kỷ Đồng không hỏi thêm dở là dở cái gì. Cô kéo ghế đối diện ngồi xuống.
Bác Lâu đứng dậy, với tay lên nóc tủ gỗ sau lưng hạ xuống xấp giấy buộc dây Kỷ Đồng từng thấy lần đầu ở đúng góc đó nhiều tháng trước, bụi phủ mỏng trên sợi dây đã sờn. Ông cởi nút dây, đặt xấp giấy lên bàn ngay trước mặt cô, chậm rãi lật từng trang cho tới khi dừng lại ở trang cuối cùng còn viết dở. Mép giấy trang đó ố vàng hơn hẳn những trang phía trước. Trên trang bốn mươi mốt, dòng chữ cuối cùng đứt ngang giữa chừng, nét mực nhạt dần rồi tắt hẳn ở một câu chưa viết xong.
Nhìn xuống trang giấy đó, Kỷ Đồng nhớ về mùa hè năm ngoái. Khi làm danh mục tài liệu tham khảo cho luận văn, cô từng lần theo mười chín bài báo Ngụy Hàm Chương đứng tên trong mười năm, vì ông là tác giả duy nhất cô trích tới ba lần. Cô nhớ rõ mình đã đọc hết cả mười chín bài đó, không sót bài nào. Nào ngờ không bài nào trong số đó đi xa hơn cái mốc đang nằm dở trên trang giấy trước mặt. Cô không nói ra điều vừa nhận thấy, chỉ khẽ chạm ngón tay lên mép giấy ố vàng, ánh mắt vẫn dừng ở dòng chữ đứt đoạn.
Tờ đề tuần mới vẫn nằm nguyên trên bàn từ lúc cô mang xuống. Kỷ Đồng đẩy nó về phía ông, đặt thẳng lên xấp giấy đang mở dở ở trang bốn mươi mốt. Đứng dậy khỏi ghế, cô nói:
— Tuần này bác giải trước, để em còn mang đi chấm sớm cho kịp.
Cô không nhắc gì thêm tới trang giấy cũ, cũng không kể lại điều vừa nhận ra cho ai trong tổ, dù là Bàng Học Nghĩa hay hiệu trưởng. Bác Lâu gật đầu. Ông gấp xấp giấy cũ lại, đặt nó xuống ngay cạnh chồng sổ trực thay vì cất trở lại lên nóc tủ.
Trước giờ khoá cổng, Kỷ Đồng ghé qua phòng bảo vệ. Xấp giấy trên bàn đã mở lại đúng trang bốn mươi mốt. Ngay dưới dòng chữ cũ đứt ngang là một dòng mới, nét mực còn đậm, viết tiếp đúng chỗ bỏ dở. Trên góc bàn đặt một tờ hồ sơ in sẵn: mục tuổi ghi bốn mươi sáu, mục hình thức đào tạo ghi tại chức, mục tên trường ghi tên một thành phố không phải Hoài Thành. Đứng nhìn thêm một lúc, cô đọc được dòng hạn nộp in ở đầu tờ hồ sơ ghi ngày 15 tháng 3, còn đúng mười ngày nữa. Mục học phí ghi một vạn hai nghìn tệ một năm.
Chỉ tay vào một ô trống cuối tờ hồ sơ nơi cần thư giới thiệu của người cùng trường, bác Lâu hỏi cô có viết giúp được không. Kỷ Đồng gật đầu. Cô ngồi ngay xuống ghế đẩu, viết liền ba dòng ngắn lên tờ giấy trắng ông đưa, không nháp trước cũng không đọc lại cho ông nghe. Dòng cuối cùng cô ký tên đầy đủ, ghi thêm chức danh bên dưới:
Kỷ Đồng, giáo viên toán, Trường trung học số 2 huyện Thanh Khê.
Cô gấp tờ giấy làm đôi, đưa lại cho bác Lâu. Ông nhận lấy, kẹp ngay vào giữa tập hồ sơ đang mở sẵn trên bàn.
Trời chưa tắt hẳn nắng, Hạ Tiểu Quân đã đứng chờ ngay ngoài cửa phòng cạnh cổng, tay cầm sẵn cuốn vở bìa xanh quen thuộc từ hồi lớp mười. Tối thứ ba và tối thứ sáu, ông ngồi ở phòng cạnh cổng, không lấy tiền của đứa nào. Đứng chờ một mình ngoài sân tối trong đám học sinh đăng ký buổi học miễn phí đầu tiên, con bé cất tiếng hỏi:
— Bác ơi, em xếp bàn ghế trước hay đợi mấy bạn kia tới đã ạ?
Bác Lâu rút mẩu bút chì 2B từ sau tai xuống, đặt thẳng vào tay em, bảo cứ giữ lấy mà chép bài, ông còn cây bút khác trong ngăn bàn. Sáng hôm sau, từ phòng tập thể, Kỷ Đồng nghe hồi trống sáu giờ ba mươi đổ đúng giờ, không sớm không muộn một nhịp.